Categories
Journalism

Karl Marx: Vẫn cần thiết để suy nghĩ về sự thay thế cho chủ nghĩa tư bản

1. Marx nào?
Sự trở lại của tư tưởng Marx sau cuộc khủng hoảng kinh tế năm 2008 khác hẳn với sự quan tâm đối với những phê bình kinh tế của ông. Nhiều tác giả, trong toàn bộ các bài báo, tạp chí, sách và học thuật, đã quan sát cách phân tích của Marx để chứng tỏ sự quan trọng và sự hiểu biết về những mâu thuẫn và cơ chế hủy diệt của chủ nghĩa tư bản. Tuy nhiên, trong vài năm gần đây, người ta cũng đã xem xét lại Marx với tư cách là một nhân vật chính trị và nhà lý luận.

Việc xuất bản các bản thảo chưa từng được biết đến trước đây trong ấn bản MEGA II của Đức, cùng với những diễn giải sáng tạo về công trình của ông, đã mở ra những chân trời nghiên cứu mới và chứng minh rõ ràng hơn năng lực của ông trước đây trong việc xem xét các mâu thuẫn của xã hội tư bản trên phạm vi toàn cầu và trên các lĩnh vực khác ngoài lĩnh vực mâu thuẫn giữa tư bản và lao động. Trong số các tác phẩm kinh điển vĩ đại về tư tưởng chính trị, kinh tế và triết học, Marx là người có lý lịch thay đổi nhiều nhất trong những thập kỷ mở đầu của thế kỷ XXI.

Như chúng ta đều biết, Bộ Tư bản vẫn chưa hoàn thành vì hoàn cảnh nghèo khó mà Marx đã sống trong hai thập kỷ và vì sức khỏe yếu liên tục của ông liên quan đến những lo lắng hàng ngày. Nhưng Tư Bản không phải là dự án duy nhất vẫn chưa hoàn thành. Sự tự phê phán không thương tiếc của Marx đã làm tăng thêm khó khăn cho nhiều công việc của ông và một mặt khó khăn khác đó là lượng lớn thời gian mà ông dành cho nhiều dự án muốn xuất bản là do sự nghiêm khắc cực độ mà ông phải chịu đựng trong tất cả những tư tưởng của mình. Khi còn trẻ, Marx nổi tiếng với những người bạn đại học vì sự tỉ mỉ của mình. Có những câu chuyện mô tả ông như một người đã từ chối ‘viết một câu nếu ông không thể chứng minh điều đó bằng mười cách khác nhau’. Đây là lý do tại sao học giả trẻ tuổi sung mãn nhất trong phe Cánh tả Hegel vẫn xuất bản ít hơn nhiều học giả khác. Marx vẫn tin rằng thông tin của ông không đủ và các phán đoán của ông còn non nớt, chính điều đó đã ngăn cản ông xuất bản các bài viết còn ở dạng phác thảo hoặc rời rạc. Nhưng đây cũng là lý do tại sao ghi chú của ông cực kỳ hữu ích và nên được coi là một phần không thể thiếu trong công việc của ông. Sự lao động miệt mài không ngừng của ông đã mang lại những hệ quả lý thuyết phi thường cho tương lai.

Điều này không có nghĩa là những văn bản chưa hoàn chỉnh của ông ngang ký với những văn bản đã được xuất bản. Chúng ta nên phân biệt năm loại tác phẩm: các tác phẩm đã xuất bản, các bản thảo chuẩn bị của chúng, các bài báo, thư từ và sổ ghi chép các đoạn trích. Nhưng cũng cần phải phân biệt trong các loại này vì một số văn bản đã xuất bản của Marx không nên được coi là lời kết của ông về các vấn đề hiện tại. Ví dụ, Tuyên ngôn của Đảng Cộng sản được Friedrich Engels và Marx coi là một tài liệu lịch sử từ thời trẻ của họ chứ không phải là văn bản xác thực các quan niệm chính trị quan trọng của họ được nêu ra. Hoặc cần phải nhớ rằng các bài viết tuyên truyền chính trị và bài viết khoa học thường không kết hợp với nhau. Những sai sót kiểu này rất thường xuyên xảy ra trong các tài liệu thứ cấp về Marx. Đó là chưa kể đến sự vắng mặt trong trong các công trình soạn thảo lại tư tưởng của ông.

Các văn bản từ những năm 1840 không thể được trích dẫn một cách bừa bãi cùng với những văn bản từ những năm 1860 và 1870, vì chúng không mang hàm lượng kiến ​​thức khoa học và kinh nghiệm chính trị như nhau. Một số bản thảo Marx chỉ viết cho chính ông, trong khi những bản thảo khác là tài liệu chuẩn bị thực tế cho việc xuất bản sách. Một số đã được Marx sửa lại và thường xuyên cập nhật, trong khi những cuốn khác bị ông bỏ qua vì không có khả năng cập nhật thông tin của chúng (trong danh mục này có Tư bản, Tập III). Một số bài báo có nội dung cân nhắc có thể được coi là sự hoàn thành các tác phẩm của Marx. Tuy nhiên, những bài khác đã được viết nhanh chóng để kiếm tiền và trả tiền nhà. Một số bức thư bao gồm quan điểm xác thực của Marx về các vấn đề được thảo luận. Những lá thư khác chỉ chứa thông tin không quan trọng lắm, bởi vì chúng được gửi đến những người bên ngoài vòng kết nối của Marx, những người mà Marx cần phải ngoại giao. Cuối cùng, có hơn 200 cuốn sổ ghi chép tóm tắt (và đôi khi là bình luận) của tất cả những cuốn sách quan trọng nhất mà Marx đã đọc trong suốt một thời gian dài từ năm 1838 đến năm 1882. Chúng rất cần thiết cho sự hiểu biết về nguồn gốc lý thuyết của ông và của những yếu tố đó ông đã không thể phát triển như mình mong muốn.

2.Lý lịch của một ông già cổ điển vẫn còn nhiều điều để bàn bạc
Nghiên cứu gần đây đã bác bỏ các cách tiếp cận khác nhau làm giảm quan niệm của Marx về xã hội cộng sản đối với sự phát triển vượt trội của lực lượng sản xuất. Đặc biệt, nó cho thấy tầm quan trọng của ông đối với câu hỏi sinh thái: trong nhiều lần lặp đi lặp lại, ông tố cáo thực tế rằng sự mở rộng của phương thức sản xuất tư bản chủ nghĩa không chỉ làm gia tăng việc trộm cắp sức lao động của công nhân mà còn cướp đoạt tài nguyên thiên nhiên. Một câu hỏi khác mà Marx rất quan tâm là vấn đề di cư. Ông chỉ ra rằng phong trào cưỡng bức lao động do chủ nghĩa tư bản tạo ra là một thành phần chính của sự bóc lột tư sản và chìa khóa để chống lại điều này là sự đoàn kết giai cấp giữa những người lao động, bất kể nguồn gốc của họ hay bất kỳ sự phân biệt nào giữa lao động địa phương và lao động nhập khẩu.

Hơn nữa, Marx đã tiến hành các cuộc điều tra kỹ lưỡng về các xã hội bên ngoài châu Âu và thể hiện rõ ràng bản thân chống lại sự tàn phá của chủ nghĩa thực dân. Những cân nhắc này đều quá rõ ràng đối với bất kỳ ai đã đọc Marx, mặc dù chủ nghĩa hoài nghi ngày nay đang trở nên phổ biến trong một số lĩnh vực học thuật nhất định.

Chìa khóa đầu tiên và ưu việt để hiểu được nhiều mối quan tâm khác nhau về địa lý trong nghiên cứu của Marx, trong suốt thập kỷ cuối cùng của cuộc đời ông, nằm ở kế hoạch của ông nhằm cung cấp kiến thức phong phú hơn về động lực của phương thức sản xuất tư bản chủ nghĩa trên phạm vi toàn cầu. Nước Anh từng là lĩnh vực quan sát chính của Tư Bản Tập I; sau khi xuất bản, ông muốn mở rộng điều tra kinh tế xã hội cho hai tập Tư bản vẫn còn đang viết. Chính vì lý do này mà ông quyết định học tiếng Nga vào năm 1870 và sau đó liên tục yêu cầu sách và số liệu thống kê về Nga và Mỹ. Ông tin rằng việc phân tích những chuyển đổi kinh tế của các quốc gia này sẽ rất hữu ích để hiểu được những hình thức có thể có mà chủ nghĩa tư bản có thể phát triển trong các thời kỳ và bối cảnh khác nhau. Yếu tố quan trọng này bị đánh giá thấp trong tài liệu thứ cấp về chủ đề – chủ nghĩa thời thượng ngày nay – ‘Marx và chủ nghĩa châu Âu’.

Một câu hỏi quan trọng khác đối với nghiên cứu của Marx về các xã hội ngoài châu Âu là liệu chủ nghĩa tư bản có phải là điều kiện tiên quyết cần thiết cho sự ra đời của xã hội cộng sản hay không và nó phải phát triển ở cấp độ nào trên trường quốc tế. Quan niệm đa tuyến rõ ràng hơn, mà Marx đã giả định trong những năm cuối đời, đã khiến ông nhìn nhận một cách chăm chú hơn về những đặc thù lịch sử và sự không đồng đều của sự phát triển kinh tế và chính trị ở các quốc gia và bối cảnh xã hội khác nhau. Marx trở nên rất nghi ngờ về sự chuyển giao các phạm trù diễn giải giữa các bối cảnh lịch sử và địa lý hoàn toàn khác nhau, và như ông đã viết, ông cũng nhận ra rằng “các sự kiện có sự giống nhau nổi bật, diễn ra trong các bối cảnh lịch sử khác nhau, dẫn đến các kết quả hoàn toàn khác nhau”. Cách tiếp cận này chắc chắn đã làm tăng thêm những khó khăn mà ông phải đối mặt trong quá trình hoàn thành Tư Bản – vốn đã gập ghềnh của ông và việc viết chậm của nó đã khiến ông chấp nhận rằng công việc lớn của mình sẽ vẫn chưa hoàn thành. Nhưng nó chắc chắn đã mở ra những hy vọng về các cuộc cách mạng mới.

Marx đã đi sâu vào nhiều vấn đề khác, mặc dù thường bị đánh giá thấp, hoặc thậm chí bị bỏ qua, những điều mà hiện tại cực kỳ quan trọng cốt yếu đối với chương trình nghị sự chính trị của thời đại chúng ta. Trong số này có quyền tự do cá nhân trong lĩnh vực kinh tế và chính trị, giải phóng giới, phê phán chủ nghĩa dân tộc, và các hình thức sở hữu tập thể không do nhà nước kiểm soát. Vì vậy, ba mươi năm sau khi bức tường Berlin sụp đổ, người ta mới có thể đọc thấy một Marx rất không giống với nhà lý thuyết theo chủ nghĩa giáo điều, chủ nghĩa kinh tế học và chỉ quan tâm đến mỗi Châu Âu. Người ta có thể tìm thấy trong tác phẩm văn học đồ sộ của Marx một số phát biểu gợi ý rằng sự phát triển của lực lượng sản xuất đang dẫn đến sự giải thể của phương thức sản xuất tư bản chủ nghĩa. Nhưng sẽ là sai lầm nếu quy cho ông ấy bất kỳ ý tưởng nào rằng sự ra đời của chủ nghĩa xã hội là một tất yếu lịch sử. Thật vậy, đối với Marx, khả năng biến đổi xã hội phụ thuộc vào giai cấp công nhân và năng lực của họ, thông qua đấu tranh, để mang lại những biến động xã hội dẫn đến sự ra đời của một hệ thống kinh tế và chính trị thay thế.

3. Sự thay thế cho chủ nghĩa tư bản
Ở khắp Châu Âu, Bắc Mỹ và nhiều khu vực khác trên thế giới, bất ổn kinh tế và chính trị hiện là một đặc điểm dai dẳng của đời sống xã hội đương đại. Toàn cầu hóa, khủng hoảng tài chính, sự gia tăng của các vấn đề sinh thái và đại dịch toàn cầu gần đây, chỉ là một vài trong số những cú sốc tạo ra những căng thẳng và mâu thuẫn của thời đại chúng ta. Lần đầu tiên kể từ khi Chiến tranh Lạnh kết thúc, ngày càng có sự đồng thuận toàn cầu về sự cần thiết phải xem xét lại logic tổ chức thống trị của xã hội đương đại và phát triển các giải pháp kinh tế và chính trị mới.

Ngược lại với phương trình của chủ nghĩa cộng sản với chế độ chuyên chính vô sản, được tán thành trong việc tuyên truyền “chủ nghĩa xã hội thực sự đang tồn tại”, cần phải nhìn lại những suy ngẫm của Marx về xã hội cộng sản. Ông từng định nghĩa nó là ‘hiệp hội của những cá nhân tự do’. Nếu chủ nghĩa cộng sản hướng tới một hình thức xã hội cao hơn, thì chủ nghĩa cộng sản phải thúc đẩy các điều kiện cho ‘sự phát triển đầy đủ và tự do của mọi cá nhân’.

Trong Tư bản, Marx đã bộc lộ tính cách ngoan cố của hệ tư tưởng tư sản. Chủ nghĩa tư bản không phải là một tổ chức xã hội trong đó con người, được bảo vệ bởi các quy phạm pháp luật công bằng, có khả năng bảo đảm công lý và bình đẳng, được hưởng tự do thực sự và sống trong một nền dân chủ hoàn thiện. Trên thực tế, họ bị biến chất thành những đồ vật đơn thuần, có chức năng chính là sản xuất hàng hóa và thu lợi nhuận cho người khác.

Để lật ngược tình trạng này, việc sửa đổi việc phân phối hàng hóa tiêu dùng là chưa đủ. Điều cần thiết là thay đổi căn bản trình độ tài sản sản xuất của xã hội: “người sản xuất chỉ có thể tự do khi họ sở hữu tư liệu sản xuất”. Mô hình xã hội chủ nghĩa mà Marx đã nghĩ đến không cho phép tình trạng nghèo đói nói chung mà hướng tới việc đạt được sự giàu có tập thể hơn và sự thỏa mãn nhu cầu cao hơn.

Tuyển tập này của Marx trình bày một chủ nghĩa Marx theo nhiều cách khác, với quyển sách quen thuộc với các trào lưu thống trị của chủ nghĩa Marx thế kỷ XX. Mục đích kép của nó là góp phần vào một cuộc thảo luận phê phán mới về một số chủ đề cổ điển trong tư tưởng của Marx và phát triển sự phân tích sâu hơn về một số câu hỏi mà cho đến gần đây tương đối ít được chú ý đến. Kết quả là một bộ tuyển tập sẽ là không thể thiếu đối với tất cả các chuyên gia trong lĩnh vực này và điều này cho thấy rằng các phân tích của Marx ngày nay được cho là còn gây được tiếng vang mạnh mẽ hơn so với thời của ông ấy.

 

Người dịch: Sally Mju

Categories
Journalism

In Socialism’s Name

The road leading to Ayacucho, the city where started the political experience of Abimael Guzmán (the main Peruvian political prisoner who died a few days ago at the Maximum Safety Center of the Callao Naval Base), is very rough and as one travels along it one breathes an air of mystery. Located in the middle of the Peruvian Sierra, the city has long been marked by extreme poverty. It forms part of a landscape where, up until a few decades ago, agricultural production was still organized on a semi-feudal basis. It is a treasure that has never ceased to arouse the interest of anthropologists and scholars of popular traditions. And yet, it was precisely this remote place, until the mid-1970s lacking an asphalt connection with the coast and a real electrical system and television, that gave rise to the events that changed, irreversibly, the contemporary history of Peru and that returned to make this nation talked about throughout the world.

In 1962, a young twenty-eight-year-old university professor arrived in Ayacucho to teach philosophy. Introverted and shy, he came from the beautiful city of Arequipa, where he had studied at the Catholic high school, distinguishing himself for discipline and asceticism. Shortly after his arrival, Abimael Guzmán learned quechua, the most widespread language among the indigenous peoples of Latin America, and began an intense political militancy. A few years later, he would become famous throughout the world as the leader of Shining Path, the Maoist guerrilla movement that in the 1980s waged a bloody conflict with the Peruvian state, causing the death of almost 70,000 people over the course of twenty years. In the 1960s, with the outbreak of the Sino-Soviet crisis, the communist world split into two blocs. Originally a loyal Stalinist, Guzmán sided with the Chinese and became a Maoist. The following years saw a succession of splits among the Peruvian left, and in 1970 Guzmán led a splinter group away from the main Maoist party, naming it the Peruvian Communist Party ~ Shining Path. The group declared itself heir of the Chinese Cultural Revolution, which was “the main event in human history”, the one that had discovered “how to change souls”.

Despite its proclamations, the organization was born without any relation to the peasantry. At its inception, its adherents were only 51 and, for a long time, its political presence was limited to the university of Ayacucho, where the teachers and the new technical personnel of the whole interior-southern region of Peru were being trained.

During this period, Guzmán taught numerous courses on José Carlos Mariátegui, a prominent Marxist ~ considered by many to be the Latin American Gramsci ~ who, in the hands of Guzmán was transformed into a proto-Maoist thinker and the spiritual father of Shining Path, despite Mariátegui’s own distance from such dogmatism. Drawing on schematic Marxist manuals, Guzmán began to spread an extremely deterministic worldview among the Andean youth of the area. The aim was to create a monolithic group with an oppressive relationship between the political party and society that did not allow any room for autonomy in the struggles. Shining Path, in fact, systematically opposed strikes and land occupations, manifesting, on more than one occasion, intolerance towards the indigenous culture.

Nevertheless, in Latin America, it was this party, small but sustained by an iron discipline, strongly centralized (its main governing body was composed of Guzmán, his wife and his future companion), and protected by the absolute secrecy of its militants, that came closer than any other to the conquest of political power through arms, a feat achieved only by Fidel Castro in Cuba and the Sandinistas in Nicaragua.

Between 1968 and 1980, Peru, like almost all other Latin American countries, experienced military dictatorship. At the end of the 1970s, Guzmán left the university to go underground and formed the People’s Guerrilla Army, a parallel structure to Shining Path. Guzmán was convinced of the necessity of armed struggle; in his interpretation, violence was understood as a scientific category and death, consequently, into the price that humanity would have to pay for the achievement of socialism: “the triumph of the revolution will cost a million deaths.”

The conflict arose in a surreal atmosphere. May 1980 saw the first political elections in Peru since 1963. In the central square of Chuschi, a village not far from Ayacucho, militants of Shining Path burnt all the ballot papers. The episode was completely ignored by the government, just as no attention was paid to the macabre spectacle that the inhabitants of Lima were forced to witness a few months later, when they woke up to find dozens of dead dogs hanging from traffic lights and street lamps, with the inscription, incomprehensible to most, “Deng Xiaoping son of a bitch”.

Initially, the Peruvian state underestimated the strength of Shining Path. In the middle of the 1970s, seventy-four different Marxist-Leninist organizations were operating in Peru and when the government of Fernando Belaúnde decided to intervene against Shining Path they hadn’t any knowledge of the political and military strategy of the group that they were fighting. It was erroneously considered to be similar to other Latin American guerrilla groups (for example, those of Guevarist inspiration), from which, instead, Shining Path was completely distant. Notwithstanding the still insignificant number of its militants ~ in the meantime increased to 520 ~ and the rudimentary nature of its arsenal, mostly old rifles, the popular war of Shining Path advanced considerably in this period. Therefore, Belaúnde decided to use the armed forces and Ayacucho became the area of a political-military command for the entire region.

This second phase of the conflict was distinguished by the violent repression of local populations. The racism of the soldiers from the city, who identified every campesino as a potential danger and a target to be eliminated, contributed to the increase in the number of deaths. Once the political sphere had been suppressed, the civil authorities were replaced by the army, who abused and arbitrarily ran the Civil Defense Committees, halfway between military camps and torture centers. Shining Path responded to this strategy by trying to create “counter-power”: the Popular Committees. In other words, “liberated zones”, strictly governed by commissioners appointed by the party, which served as a support base for the guerrillas. Furthermore, Guzmán decided to expand the conflict on a national scale, starting from the capital Lima. As a result, by the end of the decade (also because in 1984 the guerrilla Revolutionary Movement Tupac Amaru had also emerged) half of Peruvian territory was under military control.

In this phase, the Manichaen extremism of Shining Path designated all those outside the party as enemies. All areas not controlled by the Shining Path became military targets ~ including representatives of the campesinos, trade unionists and leaders of women’s organizations. The followed a strategy of selective annihilation, with the aim of creating power vacuums and then installing Shining Path’s leaders and militants in key political roles. In fact, local authorities (including the police) and leaders of social organizations represented the second target of Shining Path, after the peasants who opposed its directives. In total over 1,500 people died, 23 per cent of those deliberately murdered by Shining Path’s militants, and not killed in large-scale attacks.

At a time when Mikhail Gorbachëv started Perestroika in the Soviet Union and Deng Xiaoping was ferrying China towards capitalism, in Peru Guzmán was an outlier, giving directions for an intensification of war. Attacked by the government in its strongholds that were located in the most rural Peru, his influence grew in Lima – a huge city that at the time had seven million inhabitants, with over 100,000 refugees from the most dramatic conflict zones. The growth of Shining Path was also possible because of the spirit of revolt that permeated the popular classes, struck by the social disasters provoked by the outbreak of a serious economic crisis (in 1989 hyperinflation reached 2.775%) and by the severity of neo-liberal policies imposed by the technocrats close to Alberto Fujimori, the dictator who came to power with the elections in 1990 and author, in 1992, of an autogolpe that led to the closure of parliament and the cancellation of all democratic freedoms.

Meanwhile, Guzmán inspired a combination of terror among many Peruvians, particularly those who had reason to fear reprisals from Shining Path. At the same time, the cult of Guzman’s personality reached psychopathic levels. With the disappearance of any reference to Mariátegui’s socialism, Guzmán was transformed into a semi-divine figure among party militants. (By 1988, members of Shining Path numbered 3,000, while the People’s Guerrilla Army counted 5,000 among its ranks.) In the propaganda materials circulated at the time, Guzmán was spoken of as the “fourth sword (after Marx, Lenin and Mao) of Marxism”, the “greatest living Marxist on earth”, and the “embodiment of the highest thought in the history of humanity”.

During most of the conflict, Guzmán never left Lima and kept away from the risks and hardships of war. He was captured, on 12 September 1992, when some agents of the National Police of Peru (responsible of several bloody massacres during the war with Shining Path) found in the garbage of an apartment located in an upper-class neighborhood in Lima some discarded tubes of cream for the treatment of psoriasis, a disease that Guzmán was known to have. Shortly after his imprisonment, Guzmán proposed the peace agreement that he had always categorically rejected before and, in exchange for prison privileges, even went so far as to praise the corrupted Fujimori’s regime. These events were followed by eight more years of low-intensity guerrilla warfare between the profoundly authoritarian and corrupt Peruvian state and a sector of Shining Path ~ Proseguir (Continue) ~ that had not accepted the turn of the so-called “President Gonzalo”. Abimael Guzmán spent the rest of his life in prison and died on 11 September 2021, just 29 years after his capture. He will be remembered for having given rise to the most abominable political experience committed in the name of socialism.

Categories
Interviews

Các tác phẩm cuối đời của Marx – Một cuộc phỏng vấn với Marcello Musto

Vào ngày sinh nhật của ông (05/05) , chúng ta hãy kỷ niệm ông già Karl Marx.

Những năm cuối đời của Karl Marx thường bị coi là thời kỳ sa sút về trí tuệ và thể chất. Nhưng ý tưởng của ông vẫn sôi nổi cho đến cuối đời, khi ông giải quyết các câu hỏi chính trị vẫn còn phù hợp với chúng ta ngày nay.

Công việc của Marx trong những năm cuối đời của ông, từ 1881 đến 1883, là một trong những lĩnh vực kém phát triển nhất trong các nghiên cứu về Marx. Sự lãng quên này một phần là do những năm cuối đời của Marx bị bệnh tật khiến ông không thể duy trì hoạt động viết lách thường xuyên của mình – hầu như không có tác phẩm nào được xuất bản trong giai đoạn này.

Vắng mặt những cột mốc đánh dấu công việc trước đó của Marx, từ những tác phẩm triết học ban đầu của ông cho đến những nghiên cứu sau này về kinh tế chính trị, những người viết tiểu sử của Marx từ lâu đã coi những năm cuối cùng của ông là một chương nhỏ được đánh dấu bởi sức khỏe giảm sút và năng lực trí tuệ giảm sút.

Tuy nhiên, ngày càng có nhiều nghiên cứu cho thấy đây không phải là toàn bộ câu chuyện và những năm cuối đời của Marx thực sự có thể là một mỏ vàng chứa đầy những hiểu biết mới về tư tưởng của ông. Chủ yếu được chứa trong các bức thư, sổ ghi chép và các “thứ ngoài lề” khác, các tác phẩm cuối đời của Marx miêu tả một người đàn ông, khác xa với những câu chuyện về sự suy tàn, tiếp tục vật lộn với những ý tưởng của riêng mình về chủ nghĩa tư bản như một phương thức sản xuất toàn cầu. Như được gợi ý bởi nghiên cứu muộn màng của ông về cái gọi là “xã hội nguyên thủy”, công xã nông dân Nga thế kỷ 19, và “câu hỏi quốc gia” ở các thuộc địa châu Âu, các bài viết của Marx từ thời kỳ này thực sự bộc lộ tâm trí xoay chuyển những hàm ý trong thế giới thực và sự phức tạp trong tư tưởng của ông, đặc biệt là khi họ liên quan đến sự bành trướng của chủ nghĩa tư bản ra ngoài biên giới châu Âu.

Tư tưởng quá cố của Marx là chủ đề của cuốn sách Những năm cuối cùng của Karl Marx được xuất bản gần đây của Marcello Musto. Ở đó, Musto kết hợp nhuần nhuyễn các chi tiết tiểu sử phong phú và sự tương tác tinh vi với lối viết tự vấn, thường là chín chắn của Marx.

Biên tập viên đóng góp của Jacobin, Nicolas Allen đã nói chuyện với Musto về sự phức tạp của việc nghiên cứu những năm cuối đời của Marx, và về lý do tại sao một số nghi ngờ và ý nghĩa muộn màng của Marx thực tế hữu ích hơn cho chúng ta ngày nay so với một số khẳng định ban đầu tự tin hơn của ông.

Nicolas Allen: “Marx quá cố” mà bạn viết về, đại khái bao gồm ba năm cuối cùng của cuộc đời ông vào những năm 1880, thường được coi là một suy nghĩ để lại sau cùng cho những người theo chủ nghĩa Marx và các học giả nghiên cứu về Marx. Ngoài thực tế là Marx đã không xuất bản bất kỳ tác phẩm lớn nào trong những năm cuối cùng của mình, tại sao bạn nghĩ rằng thời kỳ này ít được chú ý hơn đáng kể?

Marcello Musto: Tất cả các tiểu sử trí thức của Marx được xuất bản cho đến ngày nay đều rất ít chú ý đến thập kỷ cuối cùng của cuộc đời ông, thường dành không quá vài trang cho hoạt động của ông sau khi Hiệp hội Nam giới Lao động Quốc tế kết thúc năm 1872. Không phải ngẫu nhiên, những học giả này gần như luôn sử dụng tiêu đề chung chung là “thập kỷ trước” cho những phần (rất ngắn) này trong sách của họ. Mặc dù mối quan tâm hạn chế này là điều dễ hiểu đối với các học giả như Franz Mehring (1846–1919), Karl Vorländer (1860–1928), và David Riazanov (1870–1938), người đã viết tiểu sử về Marx giữa hai cuộc chiến tranh thế giới và chỉ có thể tập trung vào một số lượng bản thảo chưa được xuất bản hạn chế, còn đối với những người đến sau thời đại hỗn loạn đó thì vấn đề phức tạp hơn.

Hai trong số những tác phẩm nổi tiếng nhất của Marx – Bản thảo Kinh tế và Triết học năm 1844 và Tư tưởng Đức (1845–46), cả hai đều còn rất lâu mới được hoàn thành – đã được xuất bản vào năm 1932 và chỉ bắt đầu được lưu hành vào nửa sau của những năm 1940. Khi Chiến tranh thế giới thứ hai nhường chỗ cho cảm giác đau khổ sâu sắc do sự man rợ của chủ nghĩa Quốc xã, trong một môi trường mà các triết lý như chủ nghĩa hiện sinh trở nên phổ biến, chủ đề về tình trạng của cá nhân trong xã hội trở nên nổi bật và tạo điều kiện hoàn hảo cho mối quan tâm ngày càng tăng đó và không màn đến Marx. Trong các tư tưởng triết học của Marx, chẳng hạn như sự tha hóa và sự tồn tại giống loài. Các tiểu sử của Marx được xuất bản trong thời kỳ này, cũng giống như hầu hết các tập sách học thuật xuất bản từ giới hàn lâm, phản ánh chủ nghĩa nhiệt thành này và có sức nặng không đáng có đối với các tác phẩm thời trẻ của ông. Nhiều cuốn sách tuyên bố giới thiệu cho độc giả toàn bộ tư tưởng của Marx, trong những năm 1960 và những năm 1970, chủ yếu tập trung vào giai đoạn 1843–48, khi Marx, tại thời điểm xuất bản Tuyên ngôn Đảng Cộng Sản (1848), mới ba mươi tuổi.

Trong bối cảnh này, không chỉ thập kỷ cuối cùng của cuộc đời Marx được coi là một suy nghĩ sau, mà bản thân Tư bản cũng bị xếp xuống vị trí thứ yếu. Nhà xã hội học tự do Raymond Aron đã mô tả một cách hoàn hảo thái độ này trong cuốn sách D’une Sainte Famille à l’autre: Essais sur les marxismes Imaginaires (1969), nơi ông chế nhạo những người theo chủ nghĩa Marx ở Paris, những người đã lướt qua Tư bản, kiệt tác của ông và thành quả của rất nhiều công trình nhiều năm, được xuất bản năm 1867, và vẫn bị thu hút bởi sự mù mờ và không hoàn chỉnh của các Bản thảo Kinh tế và Triết học năm 1844.

Chúng ta có thể nói rằng huyền thoại về “Marx thời trẻ” – cũng được Louis Althusser và những người cho rằng tuổi trẻ của Marx không thể được coi là một phần của chủ nghĩa Marx – đã là một trong những hiểu lầm chính trong lịch sử nghiên cứu về Marx. Marx đã không xuất bản bất kỳ tác phẩm nào mà ông cho là “lớn” trong nửa đầu những năm 1840. Ví dụ, người ta phải đọc các bài diễn văn và nghị quyết của Marx cho Hiệp hội những người lao động quốc tế nếu chúng ta muốn hiểu tư tưởng chính trị của ông ấy, chứ không phải các bài báo năm 1844 xuất hiện trong Niên giám Đức-Pháp. Và ngay cả khi chúng ta phân tích các bản thảo chưa hoàn chỉnh của ông, Grundrisse (1857–58) hay Các lý thuyết về giá trị thặng dư (1862–63), đối với ông, những bản thảo này còn có ý nghĩa hơn nhiều so với việc phê bình chủ nghĩa tân Hegel ở Đức, vào năm 1846. Xu hướng nhấn mạnh quá mức vào các tác phẩm thời kỳ đầu của ông không thay đổi nhiều kể từ khi Bức tường Berlin sụp đổ. Các tiểu sử gần đây hơn – mặc dù đã xuất bản các bản thảo mới trong Marx-Engels-Gesamtausgabe (MEGA), ấn bản lịch sử-phê phán các tác phẩm hoàn chỉnh của Marx và Friedrich Engels (1820–1895) – coi thường giai đoạn này giống như trước đây.

Một lý do khác cho sự lãng quên này là tính phức tạp cao của hầu hết các nghiên cứu do Marx tiến hành trong giai đoạn cuối cùng của cuộc đời ông. Viết về sinh viên trẻ của Cánh tả Hegel dễ dàng hơn nhiều so với việc cố gắng vượt qua mớ phức tạp của các bản thảo đa ngôn ngữ và sở thích trí tuệ của những năm đầu thập niên 1880, và điều này có thể đã cản trở sự hiểu biết chặt chẽ hơn về những thành tựu quan trọng mà Marx đạt được. Suy nghĩ sai lầm rằng ông đã từ bỏ ý định tiếp tục công việc của mình và coi mười năm cuối đời là “cơn hấp hối chậm chạp”, quá nhiều nhà viết tiểu sử và học giả về Marx đã không tìm hiểu sâu hơn những gì ông thực sự đã làm trong thời kỳ đó.

Trong bộ phim gần đây Miss Marx, có một cảnh ngay sau đám tang của Marx cho thấy Friedrich Engels và Eleanor, con gái út của Marx, đang sàng lọc các giấy tờ và bản thảo trong nghiên cứu của Marx. Engels kiểm tra một bài báo và đưa ra nhận xét về mối quan tâm muộn màng của Marx đối với phương trình vi phân và toán học. Những năm cuối cùng của Karl Marx dường như tạo ấn tượng rằng, trong những năm cuối cùng của ông, phạm vi mối quan tâm của Marx đặc biệt rộng lớn. Có sợi dây hướng dẫn nào kết hợp mối bận tâm này với các chủ đề đa dạng như nhân học, toán học, lịch sử cổ đại và giới tính không?

Không lâu trước khi qua đời, Marx yêu cầu con gái Eleanor nhắc Engels “làm gì đó” với những bản thảo chưa hoàn thành của ông. Như đã biết, trong mười hai năm sống sót sau Marx, Engels đã đảm nhận nhiệm vụ to lớn là gửi in các tập II và III của Tư bản mà người bạn của ông đã làm việc liên tục từ giữa những năm 1860 đến 1881 nhưng không hoàn thành. Các văn bản khác do chính Engels viết sau khi Marx qua đời năm 1883 đã gián tiếp thực hiện di nguyện của ông và có liên quan chặt chẽ đến các cuộc điều tra mà ông đã thực hiện trong những năm cuối đời. Ví dụ, Nguồn gốc của Gia đình, Sở hữu Tư nhân và Nhà nước (1884) được tác giả của nó gọi là “việc thực hiện một yêu cầu” và được truyền cảm hứng từ nghiên cứu của Marx về nhân học, đặc biệt bởi những đoạn văn mà ông đã sao chép vào năm 1881, từ Hiệp hội Cổ đại của Lewis Henry Morgan (1877) và bằng các nhận xét, ông đã thêm vào phần tóm tắt của cuốn sách này.

Một lý do khác cho sự lãng quên này là tính phức tạp cao của hầu hết các nghiên cứu do Marx tiến hành trong giai đoạn cuối cùng của cuộc đời ông.

Không chỉ có một chủ đề được đưa ra trong những năm nghiên cứu cuối cùng của Marx. Một số nghiên cứu của ông chỉ đơn giản nảy sinh từ những khám phá khoa học gần đây mà ông mong muốn được cập nhật, hoặc từ những sự kiện chính trị mà ông cho là quan trọng. Trước đây Marx đã biết rằng mức độ giải phóng chung trong một xã hội phụ thuộc vào mức độ giải phóng của phụ nữ, nhưng các nghiên cứu nhân học được thực hiện vào những năm 1880 đã cho ông cơ hội để phân tích sâu hơn về sự áp bức giới. Marx dành ít thời gian hơn cho các vấn đề sinh thái so với hai thập kỷ trước, nhưng mặt khác, ông lại một lần nữa đắm mình vào các chủ đề lịch sử. Giữa mùa thu năm 1879 và mùa hè năm 1880, ông điền vào một cuốn sổ có tựa đề Ghi chú về lịch sử Ấn Độ (664–1858), và giữa mùa thu năm 1881 và mùa đông năm 1882, ông đã làm việc chăm chú vào cái gọi là Trích yếu thời gian, một dòng thời gian được chú thích theo từng năm của 550 trang được viết bằng chữ viết tay thậm chí còn nhỏ hơn bình thường. Chúng bao gồm tóm tắt các sự kiện trên thế giới, từ thế kỷ thứ nhất trước Công nguyên đến Chiến tranh Ba mươi năm vào năm 1648, tóm tắt nguyên nhân và các đặc điểm nổi bật của chúng.

Có thể Marx muốn kiểm tra xem các quan niệm của ông có được xác lập đúng đắn hay không trước những phát triển chính trị, quân sự, kinh tế và công nghệ lớn trong quá khứ. Trong mọi trường hợp, người ta phải nhớ rằng, khi Marx tiến hành công việc này, ông ấy đã nhận thức rõ rằng tình trạng sức khỏe yếu ớt của mình đã ngăn cản ông ấy thực hiện một nỗ lực cuối cùng để hoàn thành Tập II của Tư bản. Hy vọng của ômh ấy là thực hiện tất cả những chỉnh sửa cần thiết để chuẩn bị một ấn bản thứ ba được sửa đổi bằng tiếng Đức của Tập I, nhưng cuối cùng, ông ấy thậm chí không còn đủ sức để làm điều đó.

Tuy nhiên, tôi sẽ không nói rằng nghiên cứu mà ông thực hiện trong những năm cuối của mình rộng hơn bình thường. Có lẽ bề rộng của các cuộc điều tra của ông rõ ràng hơn trong thời kỳ này bởi vì chúng không được tiến hành song song với việc viết bất kỳ cuốn sách hoặc chuẩn bị bản thảo quan trọng nào. Nhưng những đoạn trích dài hàng nghìn trang được Marx viết bằng tám thứ tiếng, từ khi còn là sinh viên đại học, từ các tác phẩm triết học, nghệ thuật, lịch sử, tôn giáo, chính trị, luật, văn học, lịch sử, kinh tế chính trị, quan hệ quốc tế, công nghệ, toán học , sinh lý học, địa chất học, khoáng vật học, nông học, nhân học, hóa học và vật lý học, minh chứng cho sự khao khát vĩnh viễn của ông ấy đối với kiến ​​thức trong rất nhiều lĩnh vực khác nhau. Điều có thể gây ngạc nhiên là Marx không thể từ bỏ thói quen này ngay cả khi thể lực của ông suy yếu đáng kể. Sự tò mò về trí tuệ, cùng với tinh thần tự phê phán của ông , đã chiến thắng cách quản lý công việc tập trung và “sáng suốt” hơn.

Nhưng những ý tưởng về “những gì đáng lẽ Marx phải làm” thường là kết quả của ước muốn xoắn xuýt của những người muốn ông trở thành một cá nhân không làm gì khác ngoài việc viết Tư Bản – thậm chí không để ông tự bảo vệ mình khỏi những tranh cãi chính trị mà ông đã từng thêu dệt. Ngay cả khi ông từng tự định nghĩa mình là “một cỗ máy, bị kết án là ngấu nghiến sách và sau đó ném chúng, dưới hình dạng đã thay đổi, vào hố sâu của lịch sử,” Marx vẫn là một con người. Chẳng hạn, niềm yêu thích của ông đối với toán học và phép tính vi phân, bắt đầu như một sự kích thích trí tuệ khi ông tìm kiếm một phương pháp phân tích xã hội, nhưng đã trở thành một không gian lố bịch, một nơi ẩn náu vào những thời điểm khó khăn cá nhân lớn, “một nghề để duy trì sự tĩnh lặng của tâm trí , ”Như ông ấy thường nói với Engels.

Trong phạm vi đã có những nghiên cứu về các tác phẩm quá cố của Marx, họ có xu hướng tập trung vào nghiên cứu của ông về các xã hội ngoài Châu Âu. Bằng cách nhận ra rằng có những con đường dẫn đến sự phát triển bên cạnh “mô hình phương Tây”, liệu có công bằng khi nói, như một số người khẳng định, rằng đây là Marx đã lật lại một chiếc lá mới, tức là một Marx “phi Trung tâm”? Hay chính xác hơn khi nói rằng đây là sự thừa nhận của Marx rằng công trình của ông không bao giờ có ý định được áp dụng mà không chú ý đến thực tế cụ thể của các xã hội lịch sử khác nhau?

Chìa khóa đầu tiên và ưu việt để hiểu được nhiều mối quan tâm khác nhau về địa lý trong nghiên cứu của Marx, trong suốt thập kỷ cuối cùng của cuộc đời ông, nằm ở bản kế hoạch của ông nhằm cung cấp các nghiên cứu phong phú hơn về động lực của phương thức sản xuất tư bản chủ nghĩa trên phạm vi toàn cầu. Nước Anh từng là lĩnh vực quan sát chính của Tư Bản, Tập I; sau khi xuất bản, ông muốn mở rộng các cuộc điều tra kinh tế xã hội cho hai tập Tư bản vẫn còn được viết. Chính vì lý do này mà ông quyết định học tiếng Nga vào năm 1870 và sau đó liên tục yêu cầu sách và số liệu thống kê về Nga và Mỹ. Ông tin rằng việc phân tích những chuyển đổi kinh tế của các quốc gia này sẽ rất hữu ích để hiểu được những hình thức có thể có mà chủ nghĩa tư bản có thể phát triển trong các giai đoạn và bối cảnh khác nhau. Yếu tố quan trọng này bị đánh giá thấp trong các tài liệu thứ cấp về chủ đề thời thượng ngày nay là “Marx và chủ nghĩa Châu Âu”.

Một câu hỏi quan trọng khác đối với nghiên cứu của Marx về các xã hội ngoài châu Âu là liệu chủ nghĩa tư bản có phải là điều kiện tiên quyết cần thiết cho sự ra đời của xã hội cộng sản hay không và nó phải phát triển ở cấp độ nào trên phạm vi quốc tế. Quan niệm đa tuyến rõ ràng hơn mà Marx đã giả định trong những năm cuối đời khiến ông quan tâm nhiều hơn đến những đặc thù lịch sử và sự không đồng đều của sự phát triển kinh tế và chính trị ở các quốc gia và bối cảnh xã hội khác nhau. Marx trở nên rất nghi ngờ về sự chuyển giao các phạm trù diễn giải giữa các bối cảnh lịch sử và địa lý hoàn toàn khác nhau, và như ông đã viết, ông cũng nhận ra rằng “các sự kiện có sự giống nhau nổi bật, diễn ra trong các bối cảnh lịch sử khác nhau, dẫn đến các kết quả hoàn toàn khác biệt”. Cách tiếp cận này chắc chắn đã làm tăng thêm những khó khăn mà ông phải đối mặt trong quá trình hoàn thành khối lượng Tư Bản chưa hoàn thành vốn đã gập ghềnh của ông và góp phần vào việc chậm chấp nhận rằng công việc lớn của ông sẽ vẫn chưa hoàn thành. Nhưng nó chắc chắn đã mở ra những hy vọng cách mạng mới.

Trái ngược với những gì một số tác giả tin tưởng một cách ngây thơ, Marx không đột nhiên phát hiện ra rằng ông đã theo chủ nghĩa Châu Âu và dành sự quan tâm của mình cho các môn học mới vì ông cảm thấy cần phải điều chỉnh lại quan điểm chính trị của mình. Ông luôn là “công dân của thế giới” như ông thường gọi mình, và đã không ngừng cố gắng phân tích những thay đổi về kinh tế và xã hội trong tác động toàn cầu của chúng. Như người ta đã lập luận, giống như bất kỳ nhà tư tưởng nào khác ở cùng cấp độ của mình, Marx nhận thức được sự vượt trội của Châu Âu hiện đại so với các lục địa khác trên thế giới, về sản xuất công nghiệp và tổ chức xã hội, nhưng ông không bao giờ coi thực tế ngẫu nhiên này là cần thiết hoặc là yếu tố vĩnh cữu. Và, tất nhiên, ông luôn là một kẻ thù rực lửa của chủ nghĩa thực dân. Những cân nhắc này đều quá rõ ràng đối với bất kỳ ai đã đọc Marx.

Một trong những chương trọng tâm của Những năm cuối cùng của Karl Marx đề cập đến mối quan hệ của Marx với Nga. Như bạn cho thấy, Marx đã tham gia vào một cuộc đối thoại rất căng thẳng với các bộ phận khác nhau của cánh tả Nga, đặc biệt là xung quanh việc họ tiếp nhận tập đầu tiên của Tư bản. Điểm chính của những cuộc tranh luận đó là gì?

 

Trong nhiều năm, Marx đã xác định Nga là một trong những trở ngại chính cho quá trình giải phóng giai cấp công nhân. Ông nhấn mạnh nhiều lần rằng sự phát triển kinh tế chậm chạp và chế độ chính trị chuyên chế của nó đã giúp biến đế chế Nga Hoàng trở thành hậu phương trước của phản cách mạng. Nhưng trong những năm cuối đời, ông bắt đầu có cái nhìn khác về nước Nga. Ông nhận ra một số điều kiện có thể cho một sự chuyển đổi xã hội lớn sau khi chế độ nông nô bị bãi bỏ vào năm 1861. Đối với Marx, Nga dường như có nhiều khả năng tạo ra một cuộc cách mạng hơn Anh, nơi mà chủ nghĩa tư bản đã tạo ra số lượng công nhân nhà máy lớn nhất trên thế giới, nhưng lại là nơi lao động phong trào, được hưởng các điều kiện sống tốt hơn, một phần dựa trên sự khai thác thuộc địa, đã trở nên yếu hơn và chịu ảnh hưởng tiêu cực của chủ nghĩa cải cách công đoàn.

Các cuộc đối thoại của Marx với các nhà cách mạng Nga đều mang tính trí tuệ và chính trị. Trong nửa đầu những năm 1870, ông đã làm quen với văn học phê phán chủ yếu về xã hội Nga và dành sự quan tâm đặc biệt cho tác phẩm của nhà triết học xã hội chủ nghĩa Nikolai Chernyshevsky (1828–1889). Ông tin rằng một hiện tượng xã hội nhất định đã đạt đến trình độ phát triển cao ở các quốc gia tiên tiến nhất có thể lan truyền rất nhanh chóng giữa các dân tộc khác và đi lên từ cấp độ thấp hơn thẳng lên cấp độ cao hơn, vượt qua các thời điểm trung gian. Điều này đã mang lại cho Marx nhiều thức ăn cho tư tưởng khi xem xét lại quan niệm duy vật của ông về lịch sử. Từ lâu, ông đã nhận thức được rằng lược đồ diễn tiến tuyến tính của các phương thức sản xuất tư sản Á Đông, cổ đại, phong kiến ​​và hiện đại, mà ông đã rút ra trong lời nói đầu cho Góp phần phê phán kinh tế chính trị (1859), hoàn toàn không đủ cho sự hiểu biết về sự vận động của lịch sử, và rằng thực sự nên tránh xa bất kỳ triết lý nào của lịch sử. Ông không còn có thể quan niệm sự kế thừa của các phương thức sản xuất trong quá trình lịch sử như một chuỗi cố định của các giai đoạn được xác định trước.

Marx cũng nhân cơ hội thảo luận với các đồng chí thuộc các khuynh hướng cách mạng khác nhau ở Nga. Ông đánh giá cao đặc điểm cơ bản của hoạt động chính trị của chủ nghĩa dân túy Nga – lúc đó là phong trào cánh tả, chống tư bản – đặc biệt là vì nó không dùng đến sự phát triển mạnh mẽ của siêu cách mạng vô nghĩa hay những sự khái quát phản tác dụng. Marx đánh giá mức độ phù hợp của các tổ chức xã hội chủ nghĩa tồn tại ở Nga bằng tính cách thực dụng của họ, chứ không phải bằng tuyên bố trung thành với các lý thuyết của chính ông. Trên thực tế, ông nhận thấy rằng những người tự xưng là “Những người theo chủ nghĩa Marx” thường là những người thuyết phục nhiều nhất. Việc tiếp xúc với các lý thuyết và hoạt động chính trị của những người theo chủ nghĩa Dân túy Nga – cũng như với các Cộng đồng Paris một thập kỷ trước đó – đã giúp ông linh hoạt hơn trong việc phân tích sự gián đoạn của các sự kiện cách mạng và các lực lượng chủ quan đã định hình chúng. Nó đã đưa ông đến gần hơn với một chủ nghĩa quốc tế thực sự trên phạm vi toàn cầu.

Chủ đề trọng tâm của các cuộc đối thoại và trao đổi mà Marx đã có với nhiều nhân vật của cánh tả Nga là vấn đề rất phức tạp của sự phát triển của chủ nghĩa tư bản, có ý nghĩa chính trị và lý luận cốt yếu. Khó khăn của cuộc thảo luận này cũng được chứng minh bằng sự lựa chọn cuối cùng của Marx là không gửi một bức thư sâu sắc, trong đó ông đã phê phán một số cách hiểu sai về Tư bản cho tạp chí Otechestvennye Zapiski, hoặc để trả lời “câu hỏi về sự sống và cái chết” của Vera Zasulich về tương lai của xã nông thôn (obshchina) chỉ với một văn bản ngắn gọn, thận trọng và không dài hơn mà ông đã say mê viết đi viết lại qua ba bản thảo chuẩn bị.

NA: Thư từ của Marx với nhà xã hội chủ nghĩa Nga Vera Zasulich là chủ đề được rất nhiều người quan tâm ngày nay. Ở đó, Marx gợi ý rằng công xã nông thôn Nga có thể có khả năng tiếp nhận những tiến bộ mới nhất của xã hội tư bản – đặc biệt là công nghệ – mà không cần phải trải qua những biến động xã hội có sức tàn phá khủng khiếp đối với tầng lớp nông dân Tây Âu. Bạn có thể giải thích chi tiết hơn một chút về tư duy đã kết luận của Marx không?

MM: Bởi một sự tình cờ ngẫu nhiên, bức thư của Zasulich đến được với Marx cũng giống như sự quan tâm của ông đối với các hình thức cộng đồng cổ xưa, đã được đào sâu vào năm 1879 thông qua nghiên cứu công trình của nhà xã hội học Maksim Kovalevsky, khiến ông chú ý hơn đến những khám phá gần đây nhất của các nhà nhân học trong giai đoạn của ông ấy. Lý thuyết và thực hành đã đưa ông đến cùng một nơi. Dựa trên những ý tưởng do nhà nhân học Morgan đề xuất, ông viết rằng chủ nghĩa tư bản có thể được thay thế bằng một hình thức sản xuất tập thể cổ xưa cao hơn.

Tuyên bố không rõ ràng này cần ít nhất hai lần làm rõ.

Đầu tiên, nhờ những gì học được từ Chernyshevsky, Marx cho rằng Nga không thể lặp lại một cách phiến diện tất cả các giai đoạn lịch sử của Anh và các nước Tây Âu khác. Về nguyên tắc, quá trình chuyển đổi xã hội chủ nghĩa theo chủ nghĩa tư bản có thể xảy ra nếu không có sự thông qua chủ nghĩa tư bản cần thiết. Nhưng điều này không có nghĩa là Marx đã thay đổi nhận định phê phán của mình về công xã nông thôn ở Nga, hay ông tin rằng những nước mà chủ nghĩa tư bản vẫn còn kém phát triển gần với cách mạng hơn những nước có nền sản xuất phát triển tiên tiến hơn. Ông không đột nhiên tin rằng các công xã nông thôn cổ xưa là một địa điểm giải phóng cho cá nhân tiên tiến hơn các quan hệ xã hội tồn tại dưới chế độ tư bản.

Vào cuối cuộc đời của mình, Marx đã bộc lộ một sự cởi mở hơn bao giờ hết về mặt lý thuyết, giúp ông có thể xem xét những con đường khả thi khác để đi đến chủ nghĩa xã hội mà trước đây ông chưa bao giờ thực hiện một cách nghiêm túc.

Thứ hai, phân tích của ông về sự biến đổi tiến bộ có thể có của obshchina không có nghĩa là được nâng lên thành một mô hình tổng quát hơn. Đó là một phân tích cụ thể về một tập thể sản xuất cụ thể vào một thời điểm lịch sử chính xác. Nói cách khác, Marx đã bộc lộ tính linh hoạt của lý thuyết và sự thiếu khoa học mà nhiều nhà Marxist sau ông đã không chứng minh được. Vào cuối đời, Marx đã bộc lộ sự cởi mở hơn bao giờ hết về mặt lý thuyết, điều này giúp ông có thể xem xét những con đường khả thi khác dẫn đến chủ nghĩa xã hội mà trước đây ông chưa bao giờ coi trọng hoặc trước đây coi là không thể đạt được.

Sự nghi ngờ của Marx được thay thế bằng sự tin chắc rằng chủ nghĩa tư bản là một giai đoạn không thể tránh khỏi đối với sự phát triển kinh tế ở mọi quốc gia và điều kiện lịch sử. Mối quan tâm mới xuất hiện ngày nay đối với những cân nhắc mà Marx chưa bao giờ gửi đến Zasulich, và đối với những ý tưởng tương tự khác được thể hiện rõ ràng hơn trong những năm cuối đời của ông, nằm ở một quan niệm về xã hội hậu tư bản chủ nghĩa khác biệt với phương trình của chủ nghĩa xã hội với lực lượng sản xuất – một quan niệm liên quan đến âm hưởng chủ nghĩa dân tộc và sự đồng cảm với chủ nghĩa thực dân, vốn đã tự khẳng định mình trong Quốc tế thứ hai và các đảng dân chủ xã hội. Các ý tưởng của Marx cũng khác rất nhiều so với “phương pháp khoa học” được cho là “phương pháp khoa học” của cơ sở phân tích xã hội ở Liên Xô và các nước ảnh hưởng Liên Xô.

Mặc dù những cuộc đấu tranh về sức khỏe của Marx đã được biết đến nhiều, nhưng bạn vẫn thấy đau lòng khi đọc chương cuối cùng của Những năm cuối cùng của Karl Marx, nơi bạn ghi lại tình trạng xấu dần đi của ông ấy. Tiểu sử trí thức của Marx đã chỉ ra một cách đúng đắn rằng sự đánh giá đầy đủ về Marx cần phải kết nối cuộc đời và hoạt động chính trị của ông với cơ thể tư tưởng của ông; nhưng còn giai đoạn sau này, khi Marx phần lớn không hoạt động do bệnh tật thì sao? Là một người viết tiểu sử trí thức, bạn tiếp cận thời kỳ đó như thế nào?

Một trong những học giả giỏi nhất về Marx từ trước đến nay, Maximilien Rubel (1905–1996), tác giả của cuốn sách Karl Marx: essai de biographie Artificialuelle (1957), đã lập luận rằng, để có thể viết về Marx, người ta phải có một chút kinh nghiệm của một triết gia, một nhà sử học, một nhà kinh tế học, và một nhà xã hội học đồng thời. Tôi muốn nói thêm rằng, bằng cách viết tiểu sử của Marx, người ta cũng học được rất nhiều điều về y học. Trong suốt cuộc đời trưởng thành của mình, Marx đã giải quyết một số vấn đề về sức khỏe. Dài nhất trong số đó là một căn bệnh nhiễm trùng da khó chịu đã đi cùng ông trong suốt quá trình viết Tư Bản và biến chứng thành các ổ áp xe và nhọt nghiêm trọng, suy nhược trên các bộ phận khác nhau của cơ thể. Chính vì lý do đó, khi Marx hoàn thành cuốn sách Magnum opus [Kiệt tác] của mình, ông ấy đã viết: “Tôi hy vọng giai cấp tư sản sẽ nhớ đến những lời ăn cắp vặt của tôi cho đến khi họ chết!”

Hai năm cuối đời ông đặc biệt khó khăn. Marx rất đau buồn vì mất vợ và con gái lớn, và ông bị viêm phế quản mãn tính thường phát triển thành viêm màng phổi nặng. Ông ấy đã vật lộn vô ích để tìm ra chỗ có thời tiết có thể cung cấp điều kiện tốt nhất để ông ấy khỏe lại, và ông ấy đã đi du lịch, tất cả một mình, ở Anh, Pháp và thậm chí cả Algeria, nơi ông ấy phải trải qua một thời gian dài điều trị phức tạp. Khía cạnh thú vị nhất của phần này trong tiểu sử của Marx là sự khôn ngoan, luôn đi kèm với sự tự mỉa mai, mà ông đã thể hiện để đối phó với sự yếu ớt của cơ thể mình. Những bức thư mà ông viết cho các con gái của mình và cho Engels, khi ông cảm thấy rằng nó đã gần đi đến cuối con đường, càng cho thấy rõ khía cạnh thân thiết nhất của ông. Chúng tiết lộ tầm quan trọng của cái mà ông gọi là “thế giới vi mô”, bắt đầu từ niềm đam mê sống còn mà ông dành cho các cháu của mình. Chúng bao gồm những cân nhắc của một người đàn ông đã trải qua một thời gian tồn tại lâu dài và mãnh liệt và đã đi đến đánh giá tất cả các khía cạnh của nó.

Người viết tiểu sử phải kể lại những đau khổ của lĩnh vực riêng tư, đặc biệt là khi chúng có liên quan để hiểu rõ hơn những khó khăn trong quá trình viết một cuốn sách, hoặc lý do tại sao bản thảo vẫn chưa hoàn thành. Nhưng họ cũng phải biết điểm dừng, và phải tránh nhìn một cách vô kỷ luật vào những việc riêng tư.

Vì vậy, phần lớn tư tưởng muộn màng của Marx được chứa đựng trong các bức thư và sổ tay. Liệu chúng ta có nên xếp những bài viết này giống như những bài viết hoàn thiện hơn của ông ấy không? Khi bạn tranh luận rằng văn bản của Marx “về cơ bản là chưa hoàn thiện”, bạn có nghĩ đến điều này không?

Tư bản vẫn chưa hoàn thành vì cuộc sống nghèo khó mà Marx đã sống trong hai thập kỷ và vì sức khỏe liên tục của ông liên quan đến những lo lắng hàng ngày. Không cần phải nói, nhiệm vụ mà ông đã tự đặt ra – hiểu rõ phương thức sản xuất tư bản chủ nghĩa ở mức trung bình lý tưởng và mô tả các khuynh hướng phát triển chung của nó – thật khó đạt được. Nhưng Tư Bản không phải là dự án duy nhất vẫn chưa hoàn thành. Sự tự phê phán không thương tiếc của Marx đã làm tăng thêm khó khăn cho nhiều công việc của ông, và lượng lớn thời gian mà ông dành cho nhiều dự án mà ông muốn xuất bản là do sự nghiêm khắc đến tột độ mà ông phải chịu đựng trong tất cả những suy nghĩ của mình.

Khoảng thời gian lớn mà Marx dành cho nhiều dự án mà ông muốn xuất bản là do ông phải chịu mọi suy nghĩ rất khắt khe.

Khi còn trẻ, Marx nổi tiếng với những người bạn đại học vì sự tỉ mỉ của mình. Có những câu chuyện mô tả ông như một người nào đó đã từ chối viết một câu nếu ông không thể chứng minh điều đó bằng mười cách khác nhau. Đây là lý do tại sao học giả trẻ tuổi sung mãn nhất trong Cánh tả Hegel vẫn xuất bản ít hơn nhiều học giả khác. Niềm tin của Marx rằng thông tin của ông không đủ và các phán đoán của ông chưa chín chắn, đã ngăn cản ông xuất bản các bài viết còn ở dạng phác thảo hoặc rời rạc. Nhưng đây cũng là lý do tại sao ghi chú của ông ấy cực kỳ hữu ích và nên được coi là một phần không thể thiếu trong oeuvre [tác phẩm] của ông ấy. Nhiều lao động không ngừng của ông đã mang lại những hệ quả lý thuyết phi thường cho tương lai.

Điều này không có nghĩa là những văn bản chưa hoàn chỉnh của ông ấy có thể có cùng trọng lượng với những văn bản đã được xuất bản. Tôi sẽ phân biệt năm loại tác phẩm: các tác phẩm đã xuất bản, các bản thảo chuẩn bị của chúng, các bài báo, thư từ và sổ ghi chép các đoạn trích. Nhưng sự khác biệt cũng phải được thực hiện trong các loại này. Một số văn bản đã xuất bản của Marx không nên được coi là lời cuối cùng của ông về các vấn đề hiện tại. Ví dụ, Tuyên ngôn của Đảng Cộng sản được Engels và Marx coi như một văn kiện lịch sử từ thời trẻ của họ chứ không phải là văn bản xác thực trong đó các quan niệm chính trị chính của họ được nêu ra. Hoặc cần phải nhớ rằng các bài viết tuyên truyền chính trị và các bài viết khoa học thường không kết hợp với nhau.

Thật không may, những sai sót kiểu này rất thường xuyên xảy ra trong các tài liệu thứ cấp về Marx. Đó là chưa kể đến sự vắng mặt của chiều thời gian trong nhiều công trình tái tạo lại tư tưởng của ông. Các văn bản từ những năm 1840 không thể được trích dẫn một cách bừa bãi cùng với những văn bản từ những năm 1860 và 1870, vì chúng không có trọng lượng như nhau về kiến ​​thức khoa học và kinh nghiệm chính trị. Một số bản thảo do Marx chỉ viết cho chính ông, trong khi những bản thảo khác là tài liệu chuẩn bị thực tế để xuất bản sách. Một số đã được Marx sửa đổi và thường xuyên cập nhật, trong khi những cuốn khác bị ông bỏ rơi mà không có khả năng cập nhật chúng (trong danh mục này có Tập III của Tư Bản). Một số bài báo có nội dung cân nhắc có thể được coi là sự hoàn thành các tác phẩm của Marx. Tuy nhiên, có những bài đã được viết nhanh chóng để huy động tiền để trả tiền thuê nhà. Một số bức thư bao gồm quan điểm xác thực của Marx về các vấn đề được thảo luận. Những bài báo nhanh chỉ chứa một phiên bản nhẹ nhàng, bởi vì chúng được gửi đến những người bên ngoài vòng kết nối của Marx, những người mà đôi khi cần phải thể hiện bản thân bằng ngoại giao.

Vì tất cả những lý do này, rõ ràng là một kiến ​​thức tốt về cuộc đời của Marx là không thể thiếu để hiểu đúng những ý tưởng của ông. Cuối cùng, có hơn hai trăm cuốn sổ ghi chép tóm tắt (và đôi khi là bình luận) của tất cả những cuốn sách quan trọng nhất mà Marx đã đọc trong suốt một thời gian dài từ năm 1838 đến năm 1882. Chúng rất cần thiết cho sự hiểu biết về nguồn gốc lý thuyết của ông và của những yếu tố đó ông ấy đã không thể phát triển như ông ấy mong muốn.

Những ý tưởng được Marx hình thành trong những năm cuối đời của ông chủ yếu được thu thập trong những cuốn sổ ghi chép này. Chúng chắc chắn rất khó đọc, nhưng chúng cho chúng ta tiếp cận với một kho tàng vô cùng quý giá: không chỉ nghiên cứu mà Marx đã hoàn thành trước khi qua đời, mà còn cả những câu hỏi mà ông đã tự hỏi. Một số nghi ngờ của ông có thể hữu ích hơn cho chúng ta ngày nay hơn là một số điều chắc chắn của ông.

Marcello Musto là tác giả của Another Marx: Early Manuscript to the International (2018) và The Last Years of Karl Marx: Biography (2020). Trong số các cuốn sách đã được biên tập của ông có Sự phục hưng của Marx: Các khái niệm chính và cách diễn giải mới (2020).

 

Người dịch: Sally Mju

Categories
Journalism

150 năm của nhà tư tưởng Rosa Luxemburg

Ngày 05/03 , một trăm năm mươi năm trước, nhà tư tưởng và Marxist người Ba Lan Rosa Luxemburg đã được sinh ra. Không nghi ngờ gì nữa, bà là một trong những nhân vật cao quý nhất trong toàn bộ lịch sử của phong trào xã hội chủ nghĩa.

Vào tháng 8 năm 1893, khi người chủ trì kêu gọi bà phát biểu tại một phiên họp trong Đại hội Zurich của Quốc tế thứ hai, Rosa Luxemburg đã tiến đến không do dự, bà vượt qua đám đông đại biểu và các nhà hoạt động lúc bấy giờ đang chen chút chật kín hội trường. Bà là một trong số ít phụ nữ thời đó vẫn còn trong độ tuổi thanh xuân, bà hơi gầy và bị dị tật ở hông nên phải đi khập khiễng từ năm 5 tuổi. Ấn tượng đầu tiên cho những người nhìn thấy bà ấy chính là bà thật yếu ớt. Nhưng sau đó, bà đã đứng trên ghế để mong muốn bản thân được lắng nghe tốt hơn, và bà đã sớm thu hút toàn bộ khán giả bằng kỹ năng lập luận và sự độc đáo đến từ vị trí của mình.

Theo quan điểm của bà, yêu cầu cấp bách của phong trào công nhân Ba Lan không nên là một quốc gia Ba Lan độc lập, như nhiều người đã duy trì. Ba Lan vẫn nằm dưới sự cai trị của ba bên, bị chia cắt giữa các đế quốc Đức, Áo-Hung và Nga; việc tái thống nhất thật sự khó đạt được, và người lao động nên đặt tầm nhìn vào các mục tiêu có thể tạo ra các cuộc đấu tranh thực tế nhân danh các nhu cầu cụ thể.

Trong một lập luận mà bà sẽ phát triển trong những năm tới, bà đã công kích những người tập trung vào các vấn đề dân tộc và cảnh báo rằng luận điệu về lòng yêu nước sẽ được sử dụng để hạ bệ các cuộc đấu tranh giai cấp và đẩy câu hỏi xã hội vào ngõ cụt. Bà lập luận rằng không cần phải thêm “sự phục tùng quốc tịch Ba Lan” vào tất cả các hình thức áp bức mà giai cấp vô sản phải gánh chịu.

Chống lại hiện tại
Sự can thiệp tại Đại hội Zurich tượng trưng cho toàn bộ tiểu sử trí thức của một người phụ nữ, người cần được coi là một trong những nhân tố quan trọng nhất của chủ nghĩa xã hội thế kỷ XX. Sinh ra cách đây một trăm năm mươi năm, vào ngày 5 tháng 3 năm 1871, tại Zamość ở Ba Lan do Sa hoàng chiếm đóng, Rosa Luxemburg sống cả đời bên lề, vật lộn với nhiều nghịch cảnh và luôn bơi ngược dòng. Là người gốc Do Thái, bị tật nguyền suốt đời, bà chuyển đến Đức năm hai mươi bảy tuổi và tìm cách lấy quốc tịch ở đó thông qua một cuộc hôn nhân thuận lợi.

Là người kiên quyết theo chủ nghĩa hòa bình khi Chiến tranh thế giới thứ nhất bùng nổ, bà đã bị bỏ tù nhiều lần vì những ý tưởng của mình. Bà là một kẻ thù nồng nàn của chủ nghĩa đế quốc trong một thời kỳ mới và bạo lực của quá trình mở rộng thuộc địa. Bà đã chiến đấu chống lại án tử hình giữa sự man rợ. Và – trong một chiều không gian trung tâm – Bà ấy là một phụ nữ sống trong thế giới hầu như chỉ có đàn ông sinh sống.

Bà thường là người nữ duy nhất hiện diện tại Đại học Zurich, nơi bà lấy bằng tiến sĩ năm 1897 với luận án mang tên Sự phát triển công nghiệp của Ba Lan, và trong vai trò lãnh đạo của Nền Dân chủ Xã hội Đức. Đảng đã bổ nhiệm bà là người phụ nữ đầu tiên giảng dạy tại trường cán bộ trung ương – một nhiệm vụ mà bà đã thực hiện trong những năm từ 1907 đến 1914, trong đó bà xuất bản Sự tích lũy của chủ nghĩa tư bản (1913) và làm việc trong dự án chưa hoàn thành xong Giới thiệu về Kinh tế Chính trị ( Năm 1925).

Những khó khăn này được bổ sung bởi tinh thần độc lập và sự tự chủ của bà – một đức tính thường dẫn đến rắc rối trong các đảng cánh tả. Thể hiện một trí thông minh sống động, bà có khả năng phát triển những ý tưởng mới và bảo vệ chúng, mà không hề đắn đo sợ hãi trước những nhân vật như August Bebel và Karl Kautsky (người đã có đặc quyền được tiếp xúc trực tiếp với Engels).

Mục đích của bà không phải là lặp lại những lời của Marx mà là để giải thích chúng về mặt lịch sử và khi cần thiết, xây dựng thêm về chúng. Tự do phát biểu ý kiến ​​của mình và bày tỏ những quan điểm phê phán trong đảng là quyền bất khả xâm phạm đối với bà. Đảng phải là một không gian mà các quan điểm khác nhau có thể cùng tồn tại, miễn là những người tham gia cùng chia sẻ các nguyên tắc cơ bản của nó.

Đảng, Đình công, Cách mạng
Luxemburg đã thành công vượt qua nhiều trở ngại mà bà phải đối mặt, và trong cuộc tranh luận gay gắt với nhà cải cách Eduard Bernstein, bà đã trở thành một nhân vật nổi tiếng trong tổ chức hàng đầu của phong trào công nhân Châu Âu. Trong khi, trong tác phẩm nổi tiếng Những điều kiện tiên quyết của Chủ nghĩa xã hội và Nhiệm vụ của Nền dân chủ Xã hội (1897–99), Bernstein đã kêu gọi đảng đốt bỏ những cây cầu của mình với quá khứ và biến mình thành một lực lượng chủ nghĩa thay đổi dần dần, Luxemburg nhấn mạnh trong Cải cách xã hội hay Cách mạng? (1898–99) rằng trong mọi giai đoạn lịch sử “công việc cải cách chỉ được thực hiện theo hướng được đưa ra bởi sự thúc đẩy của cuộc cách mạng cuối cùng”.

Những người tìm cách đạt được những thay đổi mà cuộc cách mạng chinh phục quyền lực chính trị có thể thực hiện được đã không chọn “một con đường yên tĩnh hơn, chắc chắn hơn và chậm hơn đến cùng một mục tiêu,” mà là “một mục tiêu khác . ” Họ đã chấp nhận thế giới tư sản và ý thức hệ của nó trong “chuồng gà của chủ nghĩa nghị viện tư sản”

Mục đích không phải là cải thiện trật tự xã hội hiện có, mà là xây dựng một trật tự hoàn toàn khác. Vai trò của các liên đoàn lao động – vốn chỉ có thể giành được những điều kiện thuận lợi hơn từ các ông chủ trong phương thức sản xuất tư bản chủ nghĩa – và Cách mạng Nga năm 1905 đã thúc đẩy một số suy nghĩ về các chủ thể và hành động có thể mang lại sự biến đổi căn bản của xã hội.

Trong cuốn sách Đình Công Quần Chúng (1905) , Đảng chính trị và Công đoàn (1906), phân tích những sự kiện chính trong các khu vực rộng lớn của Đế quốc Nga, Luxemburg đã nêu bật vai trò chủ chốt của các tầng lớp vô sản rộng lớn nhất, hầu hết là không có tổ chức. Trong mắt bà, quần chúng là nhân vật chính thực sự của lịch sử. Ở Nga, “yếu tố tự phát” rất quan trọng – một khái niệm khiến một số người buộc tội bà đánh giá quá cao ý thức giai cấp của quần chúng, và do đó, vai trò của đảng không phải là chuẩn bị cho cuộc đình công quần chúng mà là tự đặt mình “ đứng đầu toàn bộ phong trào. ”

Đối với Luxemburg, cuộc đình công quần chúng là “nhịp đập sống động của cuộc cách mạng” và đồng thời là “bánh xe thúc đẩy mạnh mẽ nhất của nó”. Đó là “phương thức vận động chân chính của quần chúng vô sản, một hình thức hiện tượng của cuộc đấu tranh cách mạng vô sản”. Đó không phải là một hành động cá biệt đơn lẻ mà là sự tổng kết của một thời kỳ đấu tranh giai cấp lâu dài.

Hơn nữa, không thể bỏ qua rằng “trong cơn bão táp của thời kỳ cách mạng,” giai cấp vô sản đã biến đổi theo cách mà “ngay cả những gì tốt đẹp nhất, cuộc sống – chứ không phải nói đến sung túc vật chất, rất giá trị so với lý tưởng của cuộc đấu tranh. ” Các công nhân đã đạt được ý thức và trưởng thành. Các cuộc đình công hàng loạt ở Nga đã cho thấy, trong một thời kỳ như vậy, “hành động luân phiên không ngừng của các cuộc đấu tranh chính trị và kinh tế” đến mức luân phiên với nhau liên tục.

Chủ nghĩa cộng sản có nghĩa là Tự do và Dân chủ
Về vấn đề hình thức tổ chức và cụ thể hơn là vai trò của đảng, Luxemburg đã tham gia vào một cuộc tranh cãi nảy lửa khác trong suốt những năm đó, lần này là với Lenin. Trong Một bước tiến, Hai bước lùi (1904), nhà lãnh đạo Bolshevik đã bảo vệ các quan điểm được thông qua tại Đại hội lần thứ hai của Đảng Lao động Dân chủ Xã hội Nga, đưa ra quan niệm về đảng như một hạt nhân nhỏ gọn của những nhà cách mạng chuyên nghiệp, một đội tiên phong có nhiệm vụ nó là để lãnh đạo quần chúng.

Luxemburg, ngược lại, trong Câu hỏi tổ chức của nền dân chủ xã hội Nga (1904), lập luận rằng một đảng cực kỳ tập trung đã thiết lập một động thái rất nguy hiểm là “tuân theo mù quáng đối với cơ quan trung ương”. Đảng không nên kìm hãm mà hãy phát triển sự tham gia của xã hội, để đạt được “sự đánh giá đúng lịch sử về các hình thức đấu tranh”. Marx đã từng viết rằng “mỗi bước của một phong trào thực tế quan trọng hơn hàng chục kế hoạch”. Và Luxemburg đã mở rộng điều này thành tuyên bố rằng “những sai sót do một phong trào lao động thực sự mang tính cách mạng gây ra về mặt lịch sử vô cùng to lớn và có giá trị hơn sự sai lầm của những người giỏi nhất trong tất cả các ủy ban trung ương có thể có”.

Cuộc đụng độ này vẫn có tầm quan trọng lớn hơn sau cuộc cách mạng Liên Xô năm 1917, mà bà đã đề nghị hỗ trợ vô điều kiện. Lo lắng trước những sự kiện đang diễn ra ở Nga (bắt đầu từ những cách thức giải quyết cải cách ruộng đất), bà là người đầu tiên trong trại cộng sản nhận thấy rằng “tình trạng khẩn cấp kéo dài” sẽ có “ảnh hưởng xấu đến xã hội”.

Trong di cảo Cách mạng Nga (1922 [1918]), bà nhấn mạnh rằng sứ mệnh lịch sử của giai cấp vô sản, trong việc chinh phục quyền lực chính trị, là “tạo ra một nền dân chủ xã hội chủ nghĩa thay thế nền dân chủ tư sản – chứ không phải xóa bỏ hoàn toàn nền dân chủ”. Chủ nghĩa cộng sản có nghĩa là “sự tham gia tích cực nhất, không giới hạn của đông đảo nhân dân, nền dân chủ không giới hạn”, mà không cần đến các nhà lãnh đạo sai lầm để hướng dẫn nó. Một chân trời chính trị và xã hội thực sự khác sẽ chỉ đạt được thông qua một quá trình phức tạp kiểu này, và không thể đạt được nếu việc thực thi quyền tự do được dành “chỉ cho những người ủng hộ chính phủ, chỉ cho các thành viên của một đảng”.

Luxemburg tin chắc rằng “chủ nghĩa xã hội, về bản chất của nó, không thể được ban tặng từ trên cao”; nó phải mở rộng dân chủ chứ không phải giảm bớt nó. Bà ấy viết rằng “sự tiêu cực, sự xé bỏ, có thể được quyết định; sự tích cực, đang xây dựng lên, không thể. ” Đó là “lãnh thổ mới” và chỉ “kinh nghiệm” mới có thể “sửa chữa và mở ra những cách thức mới”. Liên đoàn Spartacist, được thành lập vào năm 1914 sau khi ly khai với SPD và sau đó trở thành Đảng Cộng sản Đức (KPD), tuyên bố rõ ràng rằng nó sẽ không bao giờ tiếp quản quyền lực chính phủ “trừ khi đáp lại ý chí rõ ràng của đại đa số của quần chúng vô sản toàn nước Đức. ”

Mặc dù đưa ra những lựa chọn chính trị trái ngược nhau, cả Đảng Dân chủ Xã hội và Bolshevik đều quan niệm sai lầm về dân chủ và cách mạng là hai quá trình thay thế. Đối với Rosa Luxemburg, ngược lại, cốt lõi trong lý thuyết chính trị của bà là sự thống nhất không thể hòa tan giữa hai người. Di sản của bà ấy đã bị bóp chết ở cả hai phía: Đảng Dân chủ Xã hội, đồng lõa với vụ giết bà ấy ở tuổi bốn mươi bảy dưới bàn tay của các lực lượng cánh hữu, những người đã chiến đấu với bà ấy trong nhiều năm. Trong khi những người theo chủ nghĩa Stalin tránh xa việc làm cho ý tưởng của bà ấy được biết đến nhiều hơn vì tính cách phê phán, tinh thần tự do của bà.

Chống lại chủ nghĩa quân phiệt, chiến tranh và chủ nghĩa đế quốc
Điểm mấu chốt khác trong các niềm tin và hoạt động chính trị của Luxemburg là sự phản đối song song của bà với chiến tranh và kích động chống lại chủ nghĩa quân phiệt. Tại đây, bà đã chứng tỏ khả năng cập nhật cách tiếp cận lý thuyết của Cánh tả và giành được sự ủng hộ cho các nghị quyết có tầm nhìn rõ ràng tại các đại hội của Quốc tế thứ hai, mặc dù bị coi thường, nhưng lại là cái gai đối với phe ủng hộ Chiến tranh thế giới thứ nhất.

Trong phân tích của bà, chức năng của quân đội, sự tái vũ trang không ngừng và sự bùng nổ lặp đi lặp lại của các cuộc chiến tranh không chỉ được hiểu theo các thuật ngữ cổ điển của tư duy chính trị thế kỷ XIX. Đúng hơn, họ bị ràng buộc với các thế lực tìm cách đàn áp các cuộc đấu tranh của công nhân và làm công cụ hữu ích cho các nhóm lợi ích phản động nhằm chia rẽ giai cấp công nhân. Chúng cũng tương ứng với một mục tiêu kinh tế chính xác của thời đại.

Chủ nghĩa tư bản cần chủ nghĩa đế quốc và chiến tranh, ngay cả trong thời bình, để tăng sản lượng, cũng như chiếm được các thị trường mới ngay khi chúng xuất hiện ở vùng ngoại vi thuộc địa bên ngoài châu Âu. Như bà đã viết trong Sự tích lũy tư bản, “bạo lực chính trị không là gì khác ngoài một phương tiện cho quá trình kinh tế” – một nhận định mà bà đã theo dõi với một trong những luận điểm gây tranh cãi nhất trong cuốn sách, rằng việc tái cơ cấu là không thể thiếu đối với sự mở rộng sản xuất của chủ nghĩa tư bản.

Bức tranh này là một chặng đường dài so với các kịch bản cải cách lạc quan, và để tổng kết lại, Luxemburg đã sử dụng một công thức sẽ gây tiếng vang rộng rãi trong thế kỷ XX: “chủ nghĩa xã hội hay chủ nghĩa man rợ”. Bà giải thích rằng chỉ có thể tránh được nhiệm kỳ thứ hai thông qua cuộc đấu tranh quần chúng tự giác và vì chống chủ nghĩa quân phiệt đòi hỏi ý thức chính trị cao, bà là một trong những nhà vô địch vĩ đại nhất của cuộc tổng tấn công chống chiến tranh – một vũ khí mà nhiều người khác, kể cả Marx, bị đánh giá thấp.

Bà cho rằng chủ đề bảo vệ tổ quốc nên được sử dụng trong các kịch bản chiến tranh mới và “Gây chiến tranh!” khẩu hiệu phải trở thành “nền tảng của chính trị của giai cấp công nhân.” Như bà đã viết trong Cuộc khủng hoảng của nền dân chủ xã hội (1916), còn được gọi là Cuốn sách nhỏ của Junius, Quốc tế thứ hai đã nổ ra vì nó không “đạt được một chiến thuật và hành động chung của giai cấp vô sản ở tất cả các nước.” Từ đó trở đi, “mục tiêu chính” của giai cấp vô sản do đó phải là “chống chủ nghĩa đế quốc và ngăn chặn chiến tranh, trong hòa bình cũng như trong chiến tranh”.

Không đánh mất sự dịu dàng của mình
Rosa Luxemburg, một công dân quốc tế về “điều gì sẽ xảy đến”, cho biết bà cảm thấy như ở nhà khi “trên khắp thế giới, bất cứ nơi nào có mây, chim chóc và nước mắt của con người”. Bà ấy đam mê thực vật học và yêu động vật, và chúng ta có thể thấy từ những bức thư của bà ấy rằng bà ấy là một người phụ nữ rất nhạy cảm, luôn sống thật với chính mình bất chấp những trải nghiệm cay đắng mà cuộc sống đã đưa ra.

Đối với người đồng sáng lập Liên đoàn Spartacist, cuộc đấu tranh giai cấp không chỉ là vấn đề tăng lương. Bà ấy không muốn trở thành một biểu tượng đơn thuần và chủ nghĩa xã hội của bà ấy không bao giờ mang tính kinh tế. Đắm mình trong những bộ phim truyền hình cùng thời, bà tìm cách hiện đại hóa chủ nghĩa Marx mà không đặt vấn đề gì về nền tảng của nó. Những nỗ lực của bà theo hướng này là một lời cảnh báo liên tục đối với Cánh tả rằng họ không nên giới hạn hoạt động chính trị của mình trong những hoạt động nhẹ nhàng nhạt nhẽo và từ bỏ việc cố gắng thay đổi tình trạng hiện có của mọi thứ.

Cách bà ấy sống, và thành công của bà trong việc xây dựng các lý thuyết với sự kích động xã hội, vẫn là một dấu hiệu cho thế hệ chiến binh mới, những người đã chọn tham gia nhiều trận chiến mà bà ấy tiến hành.

*Marcello Musto là tác giả của Another Marx: Early Manuscript to the International (2018) và The Last Years of Karl Marx: Biography (2020). Trong số các cuốn sách đã được biên tập của ông có Sự phục hưng của Marx: Các khái niệm chính và cách diễn giải mới (2020).

 

Người dịch: Sally Mju

Categories
Journalism

Bài Học Cho Ngày Nay Từ Đệ Nhất Quốc Tế

Sau cuộc họp đầu tiên, vào ngày 28 tháng 9 năm 1864, Hiệp hội công nhân quốc tế (hay còn gọi là “Đệ Nhất Quốc Tế ”) đã nhanh chóng khơi dậy niềm đam mê trên khắp Châu Âu.
Nó khiến cho đoàn kết giai cấp trở thành một lý tưởng chung và truyền cảm hứng cho đông đảo phụ nữ và nam giới đấu tranh chống bóc lột. Nhờ hoạt động của nó, người lao động có thể hiểu rõ hơn về cơ chế của phương thức sản xuất tư bản chủ nghĩa, nhận thức rõ hơn về sức mạnh của bản thân và phát triển những hình thức đấu tranh mới, tiên tiến hơn cho quyền lợi của mình.

Ban đầu, Quốc Tế là một tổ chức chứa đựng nhiều quan niệm chính trị truyền thống khác nhau, đa số là những người theo chủ nghĩa cải lương hơn là cách mạng. Ban đầu, động lực then chốt là chủ nghĩa công đoàn của Anh, các nhà lãnh đạo chủ yếu quan tâm đến các câu hỏi về kinh tế. Họ đấu tranh để cải thiện điều kiện của người lao động, nhưng không đặt vấn đề về chủ nghĩa tư bản. Do đó, họ quan niệm Quốc tế chủ yếu như một công cụ để ngăn chặn việc nhập khẩu lao động từ nước ngoài trong trường hợp đình công.

Nhóm quan trọng thứ hai là những người theo chủ nghĩa tương hỗ, thống trị từ lâu ở Pháp. Để phù hợp với các lý thuyết của Pierre-Joseph Proudhon, họ phản đối bất kỳ sự tham gia của tầng lớp lao động nào vào chính trị và cuộc đình công như một vũ khí đấu tranh.

Sau đó, có những người Cộng sản phản đối chính hệ thống sản xuất tư bản chủ nghĩa và lập luận về sự cần thiết của việc lật đổ nó. Vào thời điểm thành lập, hàng ngũ của Quốc Tế cũng bao gồm một số công nhân được truyền cảm hứng từ các lý thuyết không tưởng và những người lưu vong có tư tưởng dân chủ mơ hồ và quan niệm giai cấp, những người coi Quốc Tế là công cụ để phát ra lời kêu gọi chung cho giải phóng các dân tộc bị áp bức.

Chính Karl Marx là người đã đưa ra một mục đích rõ ràng cho Quốc Tế và là người đã đưa ra được một chương trình chính trị dựa trên giai cấp công nhân không loại trừ các trường phái khác, nhưng vững chắc và đã giành được sự ủng hộ của quần chúng. Từ chối chủ nghĩa bè phái, ông đã làm việc để gắn kết các mối quan hệ khác nhau của Quốc tế lại với nhau. Marx là linh hồn chính trị của Hội đồng (cơ quan làm việc tổng hợp thống nhất các khuynh hướng khác nhau và ban hành các hướng dẫn cho tổ chức nói chung). Ông đã soạn thảo tất cả các nghị quyết chính và chuẩn bị gần như tất cả các báo cáo đại hội.

Nhưng tất nhiên, Quốc Tế hơn Marx, là một nhà lãnh đạo xuất sắc như tên vốn có của nó. Như người ta thường viết, nó không phải là “sự sáng tạo của Marx”. Đúng hơn đó là một phong trào xã hội và chính trị rộng lớn nhằm giải phóng các giai cấp công nhân. Quốc tế được thành lập trước hết là nhờ các cuộc đấu tranh của phong trào lao động trong những năm 1860. Một trong những quy tắc cơ bản của nó – và sự khác biệt cơ bản với các tổ chức lao động trước đây – là “sự giải phóng của các giai cấp công nhân phải được thực hiện bởi chính các giai cấp công nhân”.

Marx rất quan trọng đối với Quốc tế, nhưng Quốc tế cũng có tác động rất tích cực đối với Marx. Sự tham gia trực tiếp của ông vào các cuộc đấu tranh của công nhân có nghĩa là ông được thúc đẩy phát triển và đôi khi sửa đổi các ý tưởng của chính mình, đưa những lập luận cũ ra thảo luận và tự đặt ra những câu hỏi mới, đồng thời làm sắc nét thêm sự phê phán của ông đối với chủ nghĩa tư bản bằng cách vẽ ra những đường nét rộng lớn của một xã hội cộng sản.

Lý thuyết và cuộc đấu tranh
Cuối những năm 1860 và đầu những năm 1870 là thời kỳ đầy rẫy những xung đột xã hội ở Châu Âu. Nhiều công nhân tham gia các hành động phản đối đã quyết định liên lạc với Quốc Tế, danh tiếng của họ nhanh chóng được lan truyền rộng rãi. Từ năm 1866 trở đi, các cuộc bãi công đã tăng cường ở nhiều nước và tạo thành cốt lõi của một làn sóng vận động mới và cực quan trọng. Quốc tế rất chi là cần thiết trong các cuộc đấu tranh giành được thắng lợi của công nhân ở Pháp, Bỉ và Thụy Sĩ. Kịch bản giống nhau trong nhiều cuộc xung đột này: công nhân ở các quốc gia khác đã gây quỹ ủng hộ những người bãi công và đồng ý không nhận các công việc có thể biến họ thành lính đánh thuê công nghiệp. Kết quả là, các ông chủ buộc phải thỏa hiệp với nhiều yêu cầu của các công nhân. Những tiến bộ này được hỗ trợ bởi sự phổ biến của các tờ báo hoặc đồng tình với các ý tưởng của Quốc tế và cơ quan Đại Hội Đồng. Cả hai đều đóng góp vào sự phát triển của ý thức giai cấp và tiến hành sự lưu hành nhanh chóng các tin tức liên quan đến hoạt động của Quốc Tế.

Trên khắp châu Âu, hiệp hội đã phát triển một cơ cấu tổ chức hiệu quả và tăng số lượng thành viên của nó (150.000 vào thời cao điểm). Đối với tất cả những khó khăn liên quan đến sự đa dạng về dân tộc, ngôn ngữ và văn hóa chính trị, Quốc tế đã cố gắng đạt được sự thống nhất và phối hợp giữa nhiều tổ chức và các cuộc đấu tranh tự phát. Công lao to lớn nhất của nó là thể hiện tầm quan trọng cốt yếu của đoàn kết giai cấp và hợp tác quốc tế.

Quốc tế là trung tâm của một số cuộc tranh luận nổi tiếng nhất của phong trào lao động, chẳng hạn như cuộc tranh luận giữa chủ nghĩa cộng sản và chế độ vô chính phủ. Các đại hội của Quốc tế cũng là nơi lần đầu tiên một tổ chức xuyên quốc gia lớn đi đến quyết định về những vấn đề quan trọng đã được thảo luận trước khi thành lập, sau đó trở thành những điểm chiến lược trong các chương trình chính trị của các phong trào xã hội chủ nghĩa trên toàn thế giới. Trong số đó có chức năng không thể thiếu của tổ chức công đoàn, xã hội hóa đất đai và tư liệu sản xuất, tầm quan trọng của việc tham gia bầu cử và thực hiện điều này thông qua các đảng độc lập của giai cấp công nhân, giải phóng phụ nữ, và quan niệm chiến tranh là sản phẩm tất yếu của hệ thống tư bản chủ nghĩa.

Quốc tế cũng lan rộng ra ngoài châu Âu. Ở bên kia bờ Đại Tây Dương, những người nhập cư đến trong những năm gần đây đã bắt đầu thành lập các khu vực đầu tiên của Tổ chức Quốc Tế tại Mỹ, nhưng tổ chức này đã mắc phải hai lời nguyền khi sinh ra sẽ không bao giờ vượt qua được. Bất chấp những lời khuyến khích lặp đi lặp lại từ Đại hội đồng ở London, nó không thể cắt bỏ tính dân tộc chủ nghĩa của các nhóm liên kết khác nhau hoặc thu hút những người lao động sinh ra ở “Thế giới mới” [ Lao động sinh ra ở Châu Mỹ]. Khi các bộ phận Đức, Pháp và Czech thành lập Ủy ban Trung ương của Quốc Tế ở Bắc Mỹ, vào tháng 12 năm 1870, lần đầu tiên trong lịch sử của Quốc Tế chỉ có các thành viên “sinh ra ở nước ngoài”[ Lao động di cư từ Châu Âu]. Khía cạnh nổi bật nhất của sự bất thường này là Tổ chức Quốc Tế ở Mỹ không bao giờ sản xuất một cơ quan báo chí bằng tiếng Anh. Vào đầu những năm 1870, Quốc Tế đạt tổng cộng năm mươi bộ phận với tổng số thành viên là bốn nghìn người, nhưng đây vẫn chỉ là một tỷ lệ nhỏ trong lực lượng lao động công nghiệp của Mỹ với hơn hai triệu người.

Đỉnh điểm và khủng hoảng
Thời điểm quan trọng nhất của Quốc Tế trùng với thời điểm Công xã Paris. Vào tháng 3 năm 1871, sau khi Chiến tranh Pháp-Phổ kết thúc, công nhân Paris đã nổi dậy chống lại chính phủ mới của Adolphe Thiers và lên nắm quyền ở thành phố. Do đó, Quốc Tế là tâm điểm của cơn bão và nhận khá nhiều tai tiếng.

Đối với các nhà tư bản và tầng lớp trung lưu, nó đại diện cho một mối đe dọa lớn đối với trật tự đã được thiết lập, trong khi đối với người lao động, nó tạo ra hy vọng về một thế giới không bị bóc lột và bất công. Phong trào lao động có sức sống vô cùng to lớn, và điều đó thể hiện rõ ở khắp mọi nơi. Báo chí liên kết với Quốc Tế tăng cả về số lượng và doanh số bán hàng trong tổng thể. Cuộc nổi dậy ở Paris đã củng cố phong trào công nhân, thúc đẩy nó áp dụng các quan điểm cấp tiến hơn và tăng cường sức mạnh của nó, và không phải lần đầu tiên, Pháp cho thấy rằng cuộc cách mạng là điều có thể xảy ra, tuy nhiên lần này là với mục tiêu xây dựng các hình thức liên kết chính trị mới cho người lao động.

Bước tiếp theo cần thực hiện, như Marx đã nói, là hiểu rằng “phong trào kinh tế của giai cấp công nhân và hành động chính trị của nó là thống nhất với nhau bất khả phân ly”. Điều đó đã khiến Quốc tết tại Hội nghị London năm 1871, thúc đẩy nền tảng của một công cụ quan trọng của phong trào công nhân hiện đại: đảng chính trị – mặc dù cần nhấn mạnh rằng cách hiểu về điều này rộng hơn nhiều so với cách hiểu của những người cộng sản và các tổ chức sau Cách mạng Tháng Mười.

Khi Quốc Tế tự giải tán sau Đại hội La Hay năm 1872, nó là một tổ chức rất khác so với tổ chức tại thời điểm thành lập: những người theo chủ nghĩa cải cách không còn là yếu tố cấu thành số lượng lớn của nó nữa, và chủ nghĩa phản tài sản đã trở thành vị trí chính trị của toàn bộ hiệp hội (bao gồm những khuynh hướng mới như phe vô chính phủ do Mikhail Bakunin lãnh đạo). Bức tranh rộng hơn cũng hoàn toàn khác. Sự thống nhất của nước Đức vào năm 1871 khẳng định sự khởi đầu của một kỷ nguyên mới, với nhà nước dân tộc là hình thức trung tâm của bản sắc chính trị, luật pháp và lãnh thổ.

Cấu trúc ban đầu của Quốc Tế do đó đã trở nên lỗi thời, giống như sứ mệnh ban đầu của nó đã kết thúc. Nhiệm vụ không còn là chuẩn bị và tổ chức sự ủng hộ trên toàn Châu Âu cho các cuộc đình công, cũng không kêu gọi các đại hội tuyên bố về tính hữu ích của các tổ chức công đoàn hay nhu cầu xã hội hóa đất đai và tư liệu sản xuất. Những chủ đề như vậy giờ đây đã trở thành một phần di sản chung của Quốc tế. Sau Công xã Paris, thách thức thực sự đối với phong trào công nhân là làm thế nào để chấm dứt phương thức sản xuất tư bản chủ nghĩa và lật đổ các thể chế của thế giới tư sản.

Chủ nghĩa quốc tế của chúng ta
Lễ kỷ niệm 156 năm Đệ Nhất Quốc Tế diễn ra trong một bối cảnh rất khác. Đệ Nhất Quốc Tế của thời đại đó đối với chúng ta ngày nay, đã cho chúng ta một tinh thần chống hệ thống và sự đoàn kết thoát khỏi sự phục tùng ý thức hệ và chủ nghĩa cá nhân của một thế giới được định hình lại bởi sự cạnh tranh và tư nhân hóa tân tự do.

Thế giới lao động đã phải trải qua một thất bại thảm khốc, và Cánh tả vẫn đang ở giữa cuộc khủng hoảng sâu sắc. Sau nhiều thập kỷ áp dụng các chính sách tân tự do, chúng ta đã trở lại một hệ thống bóc lột, tương tự như ở thế kỷ XIX. “Cải cách” thị trường lao động – một thuật ngữ ngày nay đã không còn ý nghĩa tiến bộ ban đầu của nó – ngày càng mang lại tính “linh hoạt” hơn trong mỗi năm trôi qua, tạo ra sự bất bình đẳng sâu sắc hơn. Những chuyển dịch kinh tế và chính trị lớn khác nối tiếp nhau, sau khi khối Soviet sụp đổ. Trong số đó, có những thay đổi xã hội do toàn cầu hóa tạo ra, những thảm họa sinh thái do phương thức sản xuất hiện tại gây ra, hố sâu ngày càng gia tăng giữa số ít người giàu có bóc lột và phần lớn người nghèo khổ, một trong những cuộc khủng hoảng kinh tế lớn nhất của chủ nghĩa tư bản (cuộc khủng hoảng đã nổ ra năm 2008) trong lịch sử, những cơn gió dữ dội của chiến tranh, chủ nghĩa phân biệt chủng tộc và chủ nghĩa sô vanh, và gần đây nhất là đại dịch COVID-19.

Trong bối cảnh như thế này, đoàn kết giai cấp càng không thể thiếu. Chính Marx đã nhấn mạnh rằng sự đối đầu giữa những người lao động – kể cả giữa những người lao động địa phương và lao động nhập cư (những người còn bị phân biệt đối xử) – là một yếu tố thiết yếu dẫn đến sự thống trị của các giai cấp thống trị. Chắc chắn phải phát minh ra những cách thức mới để giải quyết xung đột xã hội, các đảng phái chính trị và tổ chức công đoàn, vì chúng ta không thể dùng lại các kế hoạch đã được sử dụng 150 năm trước. Nhưng bài học cũ của Quốc Tế vẫn còn nguyên giá trị rằng công nhân sẽ bị đánh bại nếu họ không tổ chức một mặt trận chung của những người bị bóc lột. Nếu không có điều đó, chân trời duy nhất của chúng ta là cuộc chiến giữa sự cạnh tranh nghèo nàn và không khoan nhượng giữa các cá nhân.

Sự man rợ của trật tự thế giới ngày nay đặt ra cho phong trào công nhân đương đại nhu cầu cấp thiết phải tự tổ chức lại trên cơ sở hai đặc điểm chính của Quốc tế: tính đa dạng của cơ cấu và chủ nghĩa cấp tiến trong các mục tiêu. Mục tiêu của tổ chức được thành lập ở London vào năm 1864 ngày nay là hợp thời hơn bao giờ hết. Tuy nhiên, để vượt qua những thách thức của hiện tại, Quốc tế mới không thể trốn tránh các yêu cầu song sinh của chủ nghĩa đa nguyên và chủ nghĩa phản dân chủ.

 

Người dịch: Sally Mju

Categories
Journalism

آبیمائل گوسمان و تراژدی مائوئیسم در آند

توضیح «نقد»: یادداشت پیشِ رو متنی است که مارچلو موستو به مناسبت درگذشت «آبیمائل گوسمان» نوشته و اختصاصا برای انتشار در «نقد» در اختیار ما گذاشته است. با سپاس از او.

 

مسیر منتهی به آیاکوچو، یعنی شهری‌که تجربه‌ی سیاسی آبیمائل گوسمان [abimael guzman] (مهم‌ترین زندانی سیاسی پرو که هفته‌ی پیش در زندان فوق‌امنیتی کالائو ناوال بیس درگذشت) از آن‌جا آغاز شد، مسیری بسیار دشوار و پر از رمزوراز برای مسافران است. این شهر، که در مرکز بخش پرویی ارتفاعات سیه‌را قرار دارد، مدت‌های مدیدی است که با فقری شدید دست به گریبان است. این شهر بخشی از دورنمایی محسوب می‌شود که تا همین چند دهه‌ی پیش تولید زراعی‌اش کماکان بر مبنایی نیمه‌فئودالی انجام می‌شد. این منطقه گنجینه‌ای است که همواره توجه انسان‌شناسان و دانش‌پژوهان سنت‌های مردمی را به‌خود جلب کرده است. بااین‌همه، دقیقاً همین مکان دورافتاده که تا میانه‌‌ی دهه‌ی 1970 حتی فاقد امکاناتی نظیر راه‌های ارتباطی آسفالته، نظام برق‌رسانی منظم و تلویزیون بود، توانست وقایعی را رقم بزند که تاریخ معاصر پرو را به‌نحو برگشت‌ناپذیری تغییر داد و باعث شد تا در سراسر جهان درباره‌ی این کشور حرف بزنند.

در سال 1962 یک استاد دانشگاه 28 ساله و جوان به آیاکوچو رفت تا به تدریس فلسفه بپردازد. او که درون‌گرا و خجالتی بود، از شهر زیبای آرکیپا می‌آمد، جایی‌که در آن تحصیلات متوسطه‌اش را در دبیرستانی کاتولیک گذرانده بود و در آن‌جا به دلیل انضباط و پرهیزگاری‌اش زبانزد همگان بود. آبیمائل گوسمان، بلافاصله پس از ورودش به این شهر زبان کچوا را که پرکاربردترین زبان بومیان آمریکای لاتین محسوب می‌شود آموخت و مبارزه‌ی سیاسی پرشدت‌وحدتی را آغاز کرد. چندین سال بعد، او در سرتاسر جهان به‌عنوان رهبر جریان سیاسی «راه درخشان» شناخته می‌شد: جنبش چریکی مائوئیستی که در دهه‌ی 1980 نبردی خونین را با دولت پرو آغاز کرد که در خلال این نبرد 20 ساله نزدیک به 70.000 نفر جان خود را از دست دادند.

فرقه‌ی مائوئیستی در آیاکوچو

جهان کمونیستی در دهه‌ی 1960 و در آستانه‌ی بحران چین‌ـ‌‌شوروی به دو بلوک تقسیم شد. گوسمان که در اصل استالینیستی وفادار بود، طرف چینی‌ها را گرفت و مائوئیست شد. در سال‌های آتی شاهد سلسله‌ای از انشعابات میان چپ پرو بودیم و گوسمان در 1970 رهبری یک گروه منشعب از حزب اصلی مائوئیست را برعهده داشت که آن را حزب کمونیست پرو ــ راه درخشان نام نهادند. این گروه خود را وارث انقلاب فرهنگی چین اعلام می‌کرد، انقلابی‌که «یگانه رخداد تاریخ بشری» محسوب می‌شد که راه «تحول قلوب» را کشف کرده بود.

این سازمان به‌رغم ادعاهای رسمی‌اش بدون هیچ ارتباطی با دهقانان پدید آمده بود. طرفداران آن در بدو تأسیس تنها 51 نفر بودند و تا مدت‌ها نیز حضور سیاسی‌اش محدود به دانشگاه آیاکوچو بود که محل پرورش معلمان و نسل جدید تکنیسین‌های منطقه‌ی داخلی‌ـ‌جنوبی پرو محسوب می‌شد.

گوسمان در این‌زمان دوره‌های آموزشی متعددی را به تدریس تفکر خوزه کارلوس ماریاتگویی [José Carlos Mariátegui]، مارکسیستی برجسته ــ و به باور بسیاری، گرامشیِ آمریکای لاتین ــ اختصاص داد که البته از دریچه‌ی گوسمان به یک متفکر مائوئیستی و پدر معنوی جریان راه درخشان بدل شده بود، به‌‌رغم این‌که خودِ ماریاتگوئی از چنین جزم‌باوری‌هایی فاصله داشت. گوسمان با بهره‌گیری از کتابچه‌های طرح‌وارِ مارکسیستیْ شروع به ترویج یک جهان‌بینی شدیداً جبرباورانه در میان جوانان آندی آن منطقه کرد. هدفْ پدیدآوردن گروهی یک‌دست و واجد روابطی سرکوبگرانه میان حزب سیاسی و جامعه بود که اجازه‌ی پدیدآمدن هیچ فضای خودمختاری را در مبارزات نمی‌داد. درواقع، راه درخشان، به‌صورت نظام‌مند مخالف اعتصابات و اشغال مکان‌ها بود و در مقاطعی متعدد رویکردی مبتنی بر عدمِ‌ مدارا در برابر فرهنگ بومی از خود به نمایش گذاشت.

بااین‌همه، همین حزب کوچک که متکی به انضباطی آهنین و شدیداً متمرکز (بدنه‌ی رهبری اصلی آن را گوسمان و همسرش یعنی همگامِ سال‌های بعدش شکل می‌دادند) بود و رازداری تمام‌عیار مبارزانش آن را حفظ می‌کرد، تنها حزبی در آمریکای لاتین بود که بیش از دیگران به فتح قدرت سیاسی از طریق مبارزه‌ی مسلحانه نزدیک شد، یعنی شاهکاری که فقط فیدل کاسترو در کوبا و ساندینیست‌ها در نیکاراگوئه موفق به آن شده بودند.

جنگ خلق

پرو بین سال‌های 1968 و 1980، همانند دیگر کشورهای آمریکای لاتین دیکتاتوری‌ای نظامی را تجربه می‌کرد. گوسمان در پایان دهه‌ی 1970 دانشگاه را به‌منظور فعالیت مخفیانه ترک کرد و یک ارتش چریکی خلقی تشکیل داد، ساختاری موازی با راه درخشان. گوسمان نسبت به ضرورت مبارزه‌ی مسلحانه قانع شده بود؛ در تفسیر او خشونت هم‌چون مقوله‌ای علمی درک می‌شد و مرگ نیز متعاقباً هزینه‌ای قلمداد می‌شد که بشریت برای دست‌یابی به سوسیالیسم می‌بایست بپردازد: «هزینه‌ی پیروزیِ انقلابْ مرگ میلیونی است».

نزاع در جوی عجیب و وهم‌آمیز بالا گرفت. در ماه می 1980 پرو برای نخستین‌بار شاهد برگزاری انتخابات سیاسی از مقطع 1963 به بعد بود. در مرکز چاشی، روستایی نه‌چندان دورتر از آیاکوچو، مبارزان راه درخشان تمامی تعرفه‌های رأی‌گیری را سوزاندند. حکومت این واقعه را به‌کلی نادیده گرفت، همان‌گونه که واقعه‌ی چندین ماه بعد نیز نادیده گرفته شد، یعنی زمانی‌که ساکنان لیما صبح روزی چشم گشودند و با صحنه‌ی هولناک لاشه‌ی معلقِ چند دوجین سگ از چراغ‌های راهنمایی و تیربرق‌ها مواجه شدند، سگ‌هایی که بر بدن‌های‌شان عبارتی حک شده بود که برای بسیاری بی‌معنا بود: «دنگ شیائوپینگ مادربه‌خطا».

دولت پرو در ابتدا قدرت راه درخشان را دست‌کم گرفت. در میانه‌های دهه‌ی 1970، هفتاد و چهار سازمان مارکسیست‌ـ‌‌‌لنینیست مختلف در پرو فعال بودند و زمانی‌که دولت فرناندو بلاونده تصمیم به مقابله با راه درخشان گرفت، هیچ اطلاعی در رابطه با راهبرد سیاسی و نظامی گروهی‌که با آن مبارزه می‌کردند نداشت. به غلط آن را گروهی مشابه با سایر گروه‌های چریکی آمریکای لاتین می‌دانستند (برای مثال، چیزی نظیر گروه‌های متأثر از چه‌گوارا)، یعنی مشابه با چیزی که راه درخشان کاملاً قصد فاصله‌گرفتن از آن‌ها را داشت. مبارزه‌ی مردمیِ راه درخشان، به‌رغم تعداد مبارزان کماکان اندکش ــ که اینک به 520 نفر رسیده بود ــ و کیفیت ابتدایی انبار مهماتش که عمدتاً شامل اسلحه‌هایی قدیمی می‌شد، در این دوران به‌طرز چشم‌گیری پیشرفت کرد. از همین‌رو، بلاونده تصمیم گرفت علیه آن‌ها از نیروهای مسلح استفاده کند و آیاکوچو به مرکز فرماندهی نظامی‌ـ‌سیاسی کل آن منطقه بدل شد.

در مرحله‌ی دوم درگیری شاهد سرکوب خشونت‌آمیز جمعیت‌های محلی بودیم. نژادپرستی سربازان شهری که هر کامپاسینو [campesino ــ دهقان] را خطری بالقوه تلقی می‌کردند که می‌بایست از بین برود، موجب شد تعداد تلفات نیز افزایش یابد. وقتی سرکوب فضای سیاسی به پایان رسید، مقامات نظامی، جایگزینِ مقاماتی مدنی شدند که از قدرت سوءاستفاده می‌کردند و به‌طرزی دلبخواهانه در لابه‌لای کمپ‌های نظامی و مراکز شکنجه، کمیته‌های دفاع مدنی راه می‌انداختند. پاسخ راه درخشان به این راهبرد، تلاش برای شکل‌دادن به «قدرت متقابل» بود: کمیته‌های مردمی. به‌عبارت دیگر، «مناطق آزادشده» که با سخت‌گیری تمام توسط کمیسرهایی اداره می‌شدند که از سوی حزب انتخاب شده بودند، به پایگاهی حمایتی برای جنبش چریکی بدل می‌شدند. به‌علاوه، گوسمان قصد داشت که با آغاز از پایتخت، یعنی لیما، تعارض را به سطح ملی بکشاند. در نتیجه‌ی این امر، در پایان این دهه (هم‌چنین به این علت که در 1984 جنبش چریکی انقلابی توپاک آمارو نیز سربرآورده بود) نیمی از پرو ذیل کنترل نظامی قرار گرفته بود.

در این مرحله، افراطیون تنگ‌نظرِ راه درخشان تمامی کسانی را که عضو حزب نبودند دشمن تلقی می‌کردند. [از همین‌رو،] تمامی مناطقی که تحت کنترل راه درخشان نبودند نیز به هدف حمله‌ی نظامی بدل شدند ــ از جمله نمایندگانِ دهقانان، فعالان اتحادیه‌‌ی کارگر و رهبران سازمان‌های زنان. آن‌ها با هدف ایجاد خلاءهای قدرت به راهبردِ انهدام گزینشی روی آوردند و سپس رهبران و مبارزان راه درخشان را به نقش‌های سیاسی مهم می‌گماشتند. درواقع، به‌جز دهقانانی که به مخالفت با دستورات راه درخشان برمی‌خاستند [و جزء اهداف اصلی حذف بودند]، مقامات محلی (از جمله پلیس) و رهبران سازمان‌های اجتماعی نیز اهداف ثانویه‌ تلقی می‌شدند. در مجموع بیش از 1.500 نفر کشته شدند که 23 درصد از آن‌ها، نه در حملات بزرگ‌مقیاس، بلکه عامدانه از سوی مبارزان راه درخشان به قتل رسیدند.

مخروط نزولیِ شمشیر چهارم مارکسیسم

هم‌هنگام با آغاز پروستریکا از سوی میخائیل گورباچف در شوروی و سوق‌دادن چین به سمت سرمایه‌داری از سوی دنگ شیائوپینگ، گوسمان در پرو مخالف‌خوانی بود که دستور به تشدید جنگ می‌داد. نفوذ گوسمان، که در سنگرهایش واقع در روستایی‌ترین مناطق پرو مخفی و تحت هجوم حکومت بود، در لیما افزایش یافت؛ شهری بزرگ که در آن‌زمان جمعیتی هفت میلیونی داشت و بیش از 100.000 نفر از ساکنانش پناهجویانی بودند که از مناطق درگیری به این شهر گریخته بودند. یکی از علل رشد راه درخشان هم‌چنین رواج روحیه‌‌ی شورشی در میان طبقات مردمی بود، طبقاتی‌که زیر هجوم فجایع اجتماعی‌ای قرار داشتند که در نتیجه‌ی فوران یک بحران اقتصادی شدید (در 1989 ابرتورم به نرخ 2.775% رسید) و وخامت سیاست‌گذاری‌های نئولیبرال برانگیخته شده بود؛ سیاست‌هایی که حاصل تحمیل تکنوکرات‌های نزدیک به آلبرتو فوجیموری، دیکتاتوری، بود که توسط انتخابات 1990 سر کار آمد و در 1992 کودتایی خودساخته به‌راه انداخت که به تعطیلی پارلمان و لغو تمامی آزادی‌های دموکراتیک انجامید.

در همین حال، گوسمان موجی از وحشت در میان بسیاری از پرویی‌‌ها ایجاد کرد، به‌ویژه آن دسته از کسانی‌که به هر دلیلی از تلافی‌جویی راه درخشان در هراس بودند. هم‌زمان، کیش شخصیتِ گوسمان نیز به سطوحی روان‌نژندانه رسید. با حذف هر ارجاعی به سوسیالیسم ماریاتگویی، اینک گوسمان به شخصیتی نیمه‌خداگونه در میان مبارزان حزب بدل شده بود. (تا 1988، اعضای راه درخشان به 3.000 نفر می‌رسید، درحالی‌که ارتش چریکی خلق شمار اعضایش را 5.000 نفر اعلام می‌کرد). در پروپاگاندایی که در آن زمان رواج یافته بود، از گوسمان به‌عنوان «چهارمین شمشیرِ مارکسیسم (پس از مارکس، لنین و مائو)» نام برده می‌شد، «بزرگ‌ترین مارکسیست زنده در جهان» و «تجسم نقطه‌ی اعلای تفکر در تاریخ بشریت».

گوسمان در خلال بخش اعظم این درگیری‌ها هرگز لیما را ترک نکرد و از مخاطرات و دشواری‌های جنگ به‌دور بود. او در 12 سپتامبر 1992 دستگیر شد، یعنی زمانی‌که برخی مأموران پلیس ملی پرو (که خودشان نیز مسئول قتل‌عام‌های خونین متعددی در خلال جنگ با راه درخشان بودند) در سطل زباله‌های آپارتمانی در محله‌ی بالای شهر لیما، چندین تیوپ خالی پماد درمان پسوریازیس یافتند، بیماری‌ای که گوسمان مشهور به ابتلا به آن بود. گوسمان اندکی پس از زندانی‌شدنش، در اِزای دست‌یابی به برخی امکانات در زندان، به‌سرعت قرارداد مصالحه‌ای را پذیرفت که پیش از آن همواره بدون قیدوشرط آن را رد می‌کرد؛ حتی تا آن‌جا پیش رفت که به ستایش از رژیم فاسد فوجیموری پرداخت. در پی این رخدادها شاهد هشت سال دیگر جنگ چریکی کم‌شدت‌تر میان دولت عمیقاً استبدادی و فاسد پرو و شاخه‌ای از راه درخشان ــ پروسه‌گیر (تداوم/Proseguir) ــ بودیم که توبه‌ی به اصطلاح «رئیس‌جمهور گونزالو» [نام سازمانی گوسمان] را نپذیرفته بودند.

آبیمائل گوسمان باقی عمرش را در زندان گذراند و در 11 سپتامبر 2021، یعنی 29 سال پس از دستگیری‌اش، درگذشت. یاد او همواره با منفورترین تجربه‌ی سیاسی‌ای که به نام سوسیالیسم رقم خورده است پیوند خواهد داشت.

 

ترجمه‌ی: دلشاد عبادی

Categories
Journalism

Karl Marx: Todavía indispensable para repensar la alternativa al capitalismo

El retorno a Marx tras la crisis económica de 2008 se ha caracterizado por el renovado interés en su crítica de la economía. Muchos autores, en diferentes periódicos, revistas, libros y volúmenes académicos, han subrayado lo indispensable que resulta el análisis de Marx para comprender las contradicciones y los mecanismos destructivos del capitalismo. Sin embargo, en los últimos años también se ha replanteado la figura de Marx como político y teórico.
La publicación de manuscritos hasta ahora desconocidos en la edición alemana MEGA[1], junto con interpretaciones innovadoras de su obra, han abierto nuevos horizontes de investigación y han demostrado -con mayor claridad que en el pasado su capacidad para examinar las contradicciones de la sociedad capitalista a escala mundial y en ámbitos que van más allá del conflicto entre el capital y el trabajo. No es exagerado decir que, de los grandes clásicos del pensamiento político, económico y filosófico, el perfil de Marx es el que más ha cambiado en las primeras décadas del siglo XXI.

Como es sabido, El Capital quedó inconcluso debido a la pobreza extrema en la que vivió Marx durante dos décadas y a su persistente mala salud relacionada con las preocupaciones cotidianas. Pero El Capital no fue el único proyecto que quedó incompleto. La despiadada autocrítica de Marx aumentó las dificultades de más de uno de sus proyectos destinados a ser publicados y el prolongado tiempo que dedicó a muchos de ellos se debió al extremo rigor al que sometió todo su pensamiento. Siendo joven, era conocido entre sus amigos de la universidad por su meticulosidad. Hay relatos que lo describen como alguien que se negaba a “escribir una frase si no era capaz de demostrarla de diez maneras diferentes”. Por eso, a pesar de ser el joven erudito más prolífico de la izquierda hegeliana, publicaba menos que los demás. La creencia de Marx de que su información era insuficiente y sus juicios inmaduros le impidió publicar escritos que quedaron en forma de esbozos o fragmentos. Pero también por eso sus notas son extremadamente útiles y deben considerarse parte integrante de su obra. Muchos de sus sempiternos trabajos tuvieron extraordinarias consecuencias teóricas para el futuro.
Esto no significa que sus textos incompletos tengan el mismo peso que los publicados. Hay que distinguir cinco tipos de escritos: las obras publicadas, sus manuscritos preparatorios, los artículos periodísticos, las cartas y los cuadernos de extractos. Pero también hay que hacer distinciones dentro de estas categorías. Algunos de los textos publicados de Marx no deben considerarse como su última palabra sobre los temas en cuestión. Por ejemplo, el Manifiesto del Partido Comunista fue considerado por Friedrich Engels y Marx como un documento histórico de su juventud y no como el texto definitivo en el que se exponían sus principales concepciones políticas. O hay que tener en cuenta que los escritos de propaganda política y los escritos científicos no suelen ser combinables. Este tipo de errores son muy frecuentes en la literatura secundaria sobre Marx. Por no hablar de la ausencia de la dimensión cronológica en muchas reconstrucciones de su pensamiento.

Los textos de la década de 1840 no pueden citarse indistintamente junto a los de las décadas de 1860 y 1870, ya que no tienen el mismo peso de conocimiento científico y experiencia política. Algunos manuscritos fueron escritos por Marx solo para él, mientras que otros eran verdaderos materiales preparatorios para libros que iban a ser publicados. Algunos fueron revisados y a menudo actualizados por Marx, mientras que otros fueron abandonados por él sin posibilidad de actualizarlos (en esta categoría está El Capital, volumen III). Algunos artículos periodísticos contienen consideraciones que pueden ser tomadas como la terminación de las obras de Marx. Otros, sin embargo, fueron escritos rápidamente con el fin de conseguir dinero para pagar el alquiler. Algunas cartas incluyen los auténticos puntos de vista de Marx sobre los temas tratados. Otras contienen solo una versión suavizada, porque estaban dirigidas a personas ajenas al círculo de Marx, con las que a veces era necesario expresarse diplomáticamente. Por último, están los más de 200 cuadernos que contienen resúmenes (y a veces comentarios) de todos los libros más importantes leídos por Marx durante el largo período que va de 1838 a 1882. Son esenciales para comprender la génesis de su teoría y de aquellos elementos que no pudo desarrollar como hubiera deseado.
Nuevos perfiles de un clásico que aún tiene mucho que decir
Investigaciones recientes han refutado los diversos enfoques que reducen la concepción de la sociedad comunista de Marx al desarrollo superior de las fuerzas productivas. En particular, se ha demostrado la importancia que concedió a la cuestión ecológica: en repetidas ocasiones, denunció que la expansión del modo de producción capitalista aumenta no solo el robo del trabajo de los trabajadores, sino también el saqueo de los recursos naturales. Otra cuestión que despertó el interés de Marx fue la migración. Demostró que el desplazamiento forzoso de la mano de obra generado por el capitalismo era un componente importante de la explotación burguesa y que la clave para combatirlo era la solidaridad de clase entre los trabajadores, independientemente de su origen o de cualquier distinción entre mano de obra local e importada.

Además, Marx investigó a fondo las sociedades fuera de Europa y se expresó sin ambigüedades contra los estragos del colonialismo. Todos estos elementos son demasiado obvios para cualquiera que haya leído a Marx, a pesar del escepticismo de moda hoy día en ciertos sectores académicos.
La primera clave relevante para entender la ampliación geográfica de la investigación de Marx durante la última década de su vida, radica en su plan de hacer un estudio más amplio de las dinámicas del modo de producción capitalista a escala mundial. Inglaterra había sido el principal campo de observación de El Capital, volumen I; tras su publicación, quiso ampliar las investigaciones socioeconómicas en los dos volúmenes de El Capital que quedaban por escribir. Por esta razón, en 1870 decidió aprender el idioma ruso y, a partir de entonces, pidió sin cesar libros y estadísticas sobre Rusia y los Estados Unidos de América. Creía que el análisis de las transformaciones económicas de estos países sería útil para comprender las posibles formas en que puede desarrollarse el capitalismo en diferentes períodos y contextos. Este elemento crucial se subestima en la literatura secundaria sobre el tema -hoy de moda- “Marx y el eurocentrismo”.
Otra pregunta clave en la investigación de Marx sobre las sociedades no europeas era si el capitalismo era un requisito necesario para el nacimiento de la sociedad comunista y hasta qué nivel tenía que desarrollarse internacionalmente. La concepción multilineal más acentuada que Marx asumió en sus últimos años le llevó a mirar con más atención las especificidades históricas y la desigualdad del desarrollo económico y político en los diferentes países y contextos sociales. Marx se volvió muy escéptico en cuanto a la transmisión de categorías interpretativas entre contextos históricos y geográficos completamente diferentes y, como escribió, también se dio cuenta de que “acontecimientos de sorprendente similitud, que tienen lugar en contextos históricos diferentes, conducen a resultados totalmente dispares”. Este enfoque hizo aún más difícil el ya accidentado intento de completar los volúmenes de El Capital y contribuyó a la lenta aceptación de que su obra principal quedaría incompleta. Pero ciertamente abrió nuevas esperanzas revolucionarias.
Marx profundizó en muchas otras cuestiones que, aunque a menudo se subestiman o incluso se ignoran, están adquiriendo una importancia crucial para la agenda política de nuestro tiempo. Entre ellas, la libertad individual en la esfera económica y política, la emancipación de género, la crítica del nacionalismo y las formas de propiedad colectiva no controladas por el Estado. Así, décadas después de la caída del Muro de Berlín, es posible leer a un Marx muy distinto al teórico dogmático, economicista y eurocéntrico que predominó durante tanto tiempo. Entre el enorme legado literario de Marx se pueden encontrar varias afirmaciones que sugieren que el desarrollo de las fuerzas productivas está llevando a la disolución del modo de producción capitalista. Pero sería un error atribuirle la idea de que la llegada del socialismo es una fatalidad histórica. De hecho, para Marx la posibilidad de transformar la sociedad dependía de la clase obrera y de su capacidad, a través de la lucha, de provocar estallidos sociales que condujeran al nacimiento de un sistema económico y político alternativo.

Alternativa al capitalismo

En toda Europa, América del Norte y muchas otras regiones del mundo, la inestabilidad económica y política es una característica persistente de la vida social contemporánea. La globalización, las crisis financieras, el incremento de las cuestiones ecológicas y la reciente pandemia mundial son solo algunos de los choques y problemas que producen las tensiones y contradicciones de nuestro tiempo. Por primera vez desde el final de la Guerra Fría existe un creciente consenso mundial sobre la necesidad de repensar la lógica organizativa dominante de la sociedad contemporánea y desarrollar nuevas soluciones económicas y políticas. A diferencia de equiparar el comunismo con la dictadura del proletariado, posición adoptada en la propaganda del “socialismo realmente existente”, es necesario volver a mirar las reflexiones de Marx sobre la sociedad comunista. En su momento la definió como “una asociación de individuos libres”. Si el comunismo pretende ser una forma superior de sociedad, debe promover las condiciones para “el pleno y libre desarrollo de cada individuo”. En El Capital, Marx reveló el carácter mendaz de la ideología burguesa. El capitalismo no es una organización de la sociedad en la que los seres humanos, protegidos por normas jurídicas imparciales capaces de garantizar la justicia y la equidad, disfruten de una verdadera libertad y vivan en una democracia consumada. En realidad, se les degrada hasta convertirlos en meros objetos, cuya función principal es producir mercancías y beneficios para otros. Para cambiar este estado de cosas, no basta con modificar la distribución de los bienes de consumo. Lo que se necesita es un cambio radical a nivel de los bienes productivos de la sociedad: “los productores sólo pueden ser libres cuando están en posesión de los medios de producción”. El modelo socialista que Marx tenía en mente no permitía un estado de pobreza generalizado, sino que buscaba la consecución de una mayor riqueza colectiva y una mayor satisfacción de las necesidades.

[1] MEGA, por sus siglas en aleman, se refiere a la edicion historico-critica de las obras completas de Carlos Marx y Federico Engels: Marx-Engels-Cesamtaus- gabe. El proyecto comprende todas sus publicaciones, manuscritos y borradores, asi como la correspondencia de los dos autores. Al respecto se puede consultar: https://espai-marx.net/?p=4022y https://mega.bbaw.de/de (N. del E.).

Categories
Journalism

Xem xét lại khái niệm về sự tha hóa của Marx

I. Giới thiệu
Tha hóa là một trong những chủ đề quan trọng và được tranh luận rộng rãi nhất trong thế kỷ XX, và lý thuyết của Karl Marx đóng một vai trò quan trọng trong các cuộc thảo luận. Tuy nhiên, trái ngược với những gì người ta có thể tưởng tượng, bản thân khái niệm này đã không phát triển một cách tuyến tính và việc xuất bản các văn bản chưa từng được biết đến trước đây có chứa những phản ánh của Marx về sự tha hóa đã xác định những thời điểm quan trọng trong quá trình chuyển đổi và phổ biến lý thuyết.

Ý nghĩa của thuật ngữ này đã thay đổi nhiều lần trong nhiều thế kỷ. Trong diễn ngôn thần học, nó đề cập đến khoảng cách giữa con người và Thiên Chúa; trong lý thuyết khế ước xã hội, làm mất đi quyền tự do ban đầu của cá nhân; và trong nền kinh tế chính trị Anh, để chuyển giao quyền sở hữu tài sản. Bản tường trình triết học có hệ thống đầu tiên về sự tha hóa là trong công trình của G.W.F. Hegel, người trong Hiện tượng học của Tinh thần (1807) đã sử dụng các thuật ngữ Entaüsserung (nghĩa đen là tự ngoại hóa hoặc từ bỏ) và Entfremdung (ghẻ lạnh) để biểu thị Tinh Thần trở nên khác với chính nó trong lĩnh vực khách quan. Toàn bộ câu hỏi vẫn được nêu rõ trong các tác phẩm của Cánh tả Hegel, và lý thuyết về sự tha hóa tôn giáo của Ludwig Feuerbach trong Bản chất của Cơ đốc giáo (1841) – tức là sự phóng chiếu bản chất của con người lên một vị thần tưởng tượng – đã góp phần quan trọng vào sự phát triển của khái niệm. Sau đó, Tha Hóa đã biến mất khỏi sự phản ánh triết học, và không một nhà tư tưởng lớn nào của nửa sau thế kỷ XIX chú ý đến nó. Ngay cả Marx cũng hiếm khi sử dụng thuật ngữ này trong các tác phẩm được xuất bản trong suốt cuộc đời của mình, và nó hoàn toàn không có trong chủ nghĩa Marx của Quốc tế thứ hai (1889–1914).

Tuy nhiên, trong thời kỳ này, một số nhà tư tưởng đã phát triển các khái niệm mà sau này gắn liền với sự tha hóa . Trong Phân Chia Lao Động (1893) và Tự sát (1897), Émile Durkheim đã đưa ra thuật ngữ “anomie” để chỉ một loạt các hiện tượng mà theo đó các chuẩn mực đảm bảo sự gắn kết xã hội đi vào khủng hoảng sau khi phân công lao động mở rộng. Các xu hướng xã hội đồng thời với những thay đổi to lớn trong quá trình sản xuất cũng nằm ở cơ sở tư duy của các nhà xã hội học người Đức: Georg Simmel, trong Triết lý tiền tệ (1900), rất chú ý đến sự thống trị của các thể chế xã hội đối với cá nhân và sự phi cá nhân ngày càng tăng trong quan hệ giữa con người với nhau; trong khi Max Weber, trong Kinh tế và Xã hội (1922), lại nghiên cứu các hiện tượng “quan liêu hóa” trong xã hội và “tính toán hợp lý” trong quan hệ con người, coi chúng là bản chất của chủ nghĩa tư bản. Nhưng các tác giả này nghĩ rằng họ đang mô tả những khuynh hướng không thể ngăn cản, và những suy tư của họ thường được hướng dẫn bởi mong muốn cải thiện trật tự xã hội và chính trị hiện có – chắc chắn không phải thay thế nó bằng một trật tự khác.

II. Sự xem xét lại đối với sự tha hóa
Việc xem xét lại lý thuyết về sự tha hóa đã diễn ra nhờ György Lukács, người trong Lịch sử và Ý thức giai cấp (1923) đã đề cập đến một số đoạn trong Tư bản của Marx (1867) – đặc biệt là phần về ‘chủ nghĩa tôn sùng hàng hóa’ (Der Fetischcharakter der Ware) – và giới thiệu thuật ngữ “vật thể hóa” (Verdinglichung, Versachlichung) để mô tả hiện tượng mà hoạt động lao động đối đầu với con người như một cái gì đó khách quan và độc lập, chi phối họ thông qua các quy luật tự trị bên ngoài. Tuy nhiên, về bản chất, lý thuyết của Lukács vẫn tương tự như lý thuyết của Hegel, vì ông quan niệm về vật thế hóa như một cấu trúc đã cho. Mãi về sau, sau khi bản dịch tiếng Pháp xuất hiện [1] đã tạo cho tác phẩm này một tiếng vang rộng rãi trong giới sinh viên và các nhà hoạt động cánh tả, Lukács quyết định tái bản nó cùng với một lời tựa dài tự phê bình (1967), trong đó ông giải thích rằng ‘Lịch sử và Ý thức giai cấp theo Hegel ở chỗ nó cũng đánh đồng sự tha hóa với sự khách quan hóa’. [2]

Một tác giả khác tập trung vào chủ đề này trong những năm 1920 là Isaak Rubin, người có Tiểu luận về Lý thuyết giá trị của Marx (1928) cho rằng lý thuyết về chủ nghĩa tôn sùng hàng hóa là ‘cơ sở của toàn bộ hệ thống kinh tế của Marx, và đặc biệt là lý thuyết về giá trị của ông’ . [3] Theo quan điểm của tác giả người Nga này, việc cải tạo các quan hệ xã hội là ‘một thực tế thực sự của nền kinh tế hàng hóa-tư bản’. Đây là một trong những đặc điểm của cơ cấu kinh tế của xã hội đương thời …. Chủ nghĩa phong kiến ​​không chỉ là một hiện tượng của ý thức xã hội, mà còn là bản thể xã hội. ”[5]

Bất chấp những hiểu biết này – đã có trước nếu chúng ta xem xét thời kỳ mà chúng được viết ra – công trình của Rubin không thúc đẩy sự quen thuộc nhiều hơn với lý thuyết về sự tha hóa; sự tiếp nhận của nó ở phương Tây chỉ bắt đầu khi nó được dịch sang tiếng Anh vào năm 1972 (và từ tiếng Anh sang các ngôn ngữ khác).

Sự kiện quyết định cuối cùng đã tạo nên một cuộc cách mạng trong việc phổ biến khái niệm tha hóa là sự xuất hiện vào năm 1932 của Bản thảo kinh tế-triết học năm 1844, một văn bản trước đây chưa được xuất bản từ thời trẻ của Marx. Nó nhanh chóng trở thành một trong những tác phẩm triết học được dịch, lưu hành và thảo luận rộng rãi nhất trong thế kỷ 20, cho thấy vai trò trung tâm mà Marx đã trao cho lý thuyết về sự tha hóa trong một thời kỳ quan trọng đối với sự hình thành tư tưởng kinh tế của ông: sự phát hiện ra kinh tế chính trị. . [6] Bởi vì, với phạm trù lao động bị tha hóa (entfremdete Arbeit), [7] Marx không chỉ mở rộng vấn đề tha hóa từ lĩnh vực triết học, tôn giáo và chính trị sang lĩnh vực kinh tế của sản xuất vật chất; ông cũng chỉ ra rằng lĩnh vực kinh tế là điều cần thiết để hiểu và vượt qua sự tha hóa trong các lĩnh vực khác. Trong Bản thảo Kinh tế-Triết học năm 1844, sự tha hóa được trình bày như là hiện tượng mà qua đó sản phẩm lao động đối đầu với sức lao động ‘như một thứ gì đó xa lạ, như một quyền lực độc lập với người sản xuất’. Đối với Marx, ‘sự ngoại hóa [Entäusserung] của người lao động trong sản phẩm của anh ta không chỉ có nghĩa là sức lao động của anh ta trở thành một vật thể, một sự tồn tại bên ngoài, mà nó tồn tại bên ngoài anh ta, độc lập với anh ta và xa lạ với anh ta, và bắt đầu đối đầu với anh ta như một sức mạnh tự trị ; rằng sự sống mà anh ta đã ban tặng cho vật thể đối đầu với anh ta là thù địch và xa lạ. ‘[8]

Cùng với định nghĩa chung này, Marx đã liệt kê bốn kiểu mà người lao động bị tha hóa trong xã hội tư sản: (1) Từ sản phẩm lao động của anh ta, trở thành “một vật thể xa lạ và có quyền lực cao hơn đối với anh ta”; (2) Trong hoạt động lao động làm việc của của mình , mà anh ta lại xem điều đó là “chống lại chính mình”, như thể nó “không thuộc về anh ta”; (3) từ “những gì thuộc về con người” được chuyển thành “một sinh vật xa lạ với anh ta”; 4) từ những con người khác, liên quan đến lao động của họ và đối tượng lao động của họ.

Đối với Marx, trái ngược với Hegel, sự tha hóa không đồng nghĩa với sự khách quan hóa như vậy, mà là với một hiện tượng cụ thể trong một hình thức kinh tế chính xác: đó là lao động làm công ăn lương và việc biến sản phẩm lao động thành đối tượng đối lập với người sản xuất. Sự khác biệt chính trị giữa hai vị trí này là rất lớn. Trong khi Hegel trình bày sự tha hóa như một biểu hiện bản thể học của lao động, thì Marx quan niệm nó là đặc điểm của một thời đại sản xuất tư bản chủ nghĩa, cụ thể, và cho rằng có thể khắc phục nó thông qua “sự giải phóng xã hội khỏi sở hữu tư nhân”. [11] Anh ấy sẽ đưa ra những luận điểm tương tự trong sổ tay chứa các phần trích từ Yếu tố kinh tế chính trị của James Mill:

‘Lao động là sự tự do biểu đạt và do đó là sự tận hưởng cuộc sống. Trong khuôn khổ sở hữu tư nhân, thì đó là sự tha hóa cuộc sống kể từ khi tôi làm việc để sống, để mua cho mình phương tiện sống. Lao động của tôi không phải là cuộc sống. Hơn nữa, trong lao động của tôi, tính cách cụ thể của cá nhân tôi sẽ được khẳng định bởi vì nó sẽ là cuộc sống cá nhân của tôi. Lao động sẽ được xác thực, hoạt động, tài sản. Trong khuôn khổ sở hữu tư nhân, cá nhân tôi bị tha hóa đến mức tôi không thích hoạt động này, đó là sự tra tấn đối với tôi. Trên thực tế, nó không hơn gì bề ngoài của hoạt động và vì lý do đó, nó chỉ là một sự lao động cưỡng bức áp đặt lên tôi không phải do nhu cầu bên trong mà là do nhu cầu độc đoán bên ngoài. ‘[12]

Vì vậy, ngay cả trong những tác phẩm đầu tay rời rạc và đôi khi do dự này, Marx luôn thảo luận về sự tha hóa theo quan điểm lịch sử, không phải quan điểm tự nhiên,.

III. Các quan niệm phi Marxist về sự tha hóa
Thời gian sẽ trôi qua trước khi một quan niệm lịch sử, phi bản thể luận, về sự tha hóa có thể tồn tại. Vào đầu thế kỷ 20, hầu hết các tác giả đề cập đến hiện tượng đều coi nó là một khía cạnh phổ biến của sự tồn tại của con người. Chẳng hạn, trong Hiện hữu và Thời gian (1927), Martin Heidegger đã tiếp cận nó bằng các thuật ngữ triết học thuần túy. Phạm trù mà ông sử dụng cho hiện tượng học về sự tha hóa của mình là ‘sa ngã’ (Verfallen): nghĩa là xu hướng Hiện hữu (Dasein – sự tồn tại của con người được cấu thành về mặt bản thể học) đánh mất bản thân trong tính không chân thực và chủ nghĩa phù hợp của thế giới xung quanh. Đối với Heidegger, ‘rơi vào thế giới có nghĩa là sự hấp thụ trong Hiện hữu với nhau, trong chừng mực mà sau này được hướng dẫn bởi sự nói chuyện vu vơ, tò mò và mơ hồ’ – một điều thực sự khác hẳn với tình trạng của một công nhân nhà máy, vốn là trung tâm của các mối bận tâm lý thuyết của Marx. Hơn nữa, Heidegger không coi ‘sự sa ngã’ này là một ‘thuộc tính bản thể xấu và đáng trách mà có lẽ những giai đoạn tiên tiến hơn của văn hóa nhân loại có thể tự đào thải’, mà là một đặc điểm bản thể học, ‘một phương thức hiện sinh của Bản thể. -trên thế giới’. [13]

Herbert Marcuse, không giống như Heidegger, hiểu rõ công việc của Marx, đã xác định sự tha hóa với sự khách quan hóa rõ ràng, chứ không phải với sự biểu hiện của nó trong quan hệ sản xuất tư bản chủ nghĩa. Trong một bài luận xuất bản năm 1933, ông cho rằng ‘đặc tính nặng nề của lao động’ [14] không thể chỉ đơn thuần là do “các điều kiện cụ thể trong việc thực hiện lao động, cấu trúc xã hội-kỹ thuật của lao động” [15], nhưng nên được coi là một trong những đặc điểm cơ bản của nó:

“Trong lao động, người lao động luôn“ đi với thứ gì đó ”: như đứng bên cạnh máy móc, vẽ phương án kỹ thuật, quan tâm đến các biện pháp tổ chức, nghiên cứu các vấn đề khoa học, hướng dẫn mọi người,… Trong các hoạt động, anh ta để cho mình đạt được sự chỉ đạo sự vật, tự chủ thể và tuân theo nguyên tắc của nó, tuy nhiên ngay cả khi anh ta thống trị được đối tượng vật thể của mình …. Trong mỗi trường hợp như vậy, anh ta thật sự không “là chính mình” … anh ta ở với một “Người khác với chính mình” – ngay cả khi việc làm hoàn thành cuộc sống tự do do anh ta giả định. Sự ngoại lai hóa và tha hóa sự tồn tại của con người … về nguyên tắc là không thể loại bỏ được. “[16]

Đối với Marcuse, có một ‘tiêu cực ban đầu của hoạt động lao động’ thuộc về ‘bản chất của sự tồn tại của con người’. [17] Do đó, sự phê phán về sự tha hóa đã trở thành sự phê phán về công nghệ và lao động nói chung, và sự mê tín của nó chỉ được coi là có thể xảy ra trong khoảnh khắc vui chơi, khi con người có thể đạt được một sự tự do bị từ chối trong hoạt động sản xuất: ‘Chỉ trong một lần tung ra một bóng, người chơi đạt được chiến thắng vô hạn của tự do con người đối với sự khách quan hơn là trong thành tựu mạnh mẽ nhất của lao động kỹ thuật. ‘[18]

Do đó, ngay cả khi sản xuất vật chất được tổ chức công bằng và hợp lý, ‘nó không bao giờ có thể là một lĩnh vực của tự do và thỏa mãn …. Chính lĩnh vực bên ngoài lao động xác định tự do và sự thỏa mãn.’ [21] Cách thay thế của Marcuse là từ bỏ Promethean, huyền thoại quá đỗi thân thương đối với Marx và để tiến gần hơn đến quan điểm của người Dionysian: ‘sự giải phóng của eros’. [22] Ngược lại với Freud, người đã duy trì trong – Văn minh và những bất mãn của nó (1929) rằng một tổ chức xã hội không đàn áp sẽ dẫn đến một sự thụt lùi nguy hiểm so với trình độ văn minh đạt được trong các mối quan hệ giữa con người với nhau, Marcuse tin rằng, nếu sự giải phóng của bản năng đã diễn ra trong một ‘xã hội tự do’ [23] về công nghệ tiên tiến để phục vụ nhân loại, nó sẽ không chỉ có lợi cho sự tiến bộ mà còn tạo ra ‘những mối quan hệ công việc mới và lâu bền’. [24] Nhưng những chỉ dẫn của ông về cách xã hội mới có thể ra đời khá mơ hồ và không tưởng. Nói chung, ông phản đối sự thống trị của công nghệ, để sự phê phán của ông về sự tha hóa không còn hướng vào các quan hệ sản xuất tư bản chủ nghĩa nữa, và những phản ánh của ông về sự thay đổi xã hội rất bi quan khi bao gồm cả giai cấp công nhân trong số các đối tượng hoạt động để bảo vệ hệ thống. .

Hai nhân vật hàng đầu của Trường phái Frankfurt, Max Horkheimer và Theodor Adorno, cũng phát triển một lý thuyết về sự ghẻ lạnh tổng quát do sự kiểm soát xã hội xâm lấn và sự thao túng nhu cầu của các phương tiện truyền thông đại chúng. Trong Biện chứng của Khai sáng (1944), họ lập luận rằng “cơ sở lý luận về công nghệ là cơ sở lý luận của chính sự thống trị. Đó là bản chất ép buộc của xã hội tha hóa chính nó. ”[25] Điều này có nghĩa là, trong chủ nghĩa tư bản đương đại, ngay cả lĩnh vực thời gian giải trí – rảnh rỗi và không phải làm việc – cũng bị cuốn vào các cơ chế tái tạo sự đồng thuận.

Sau Chiến tranh thế giới thứ hai, khái niệm về sự tha hóa cũng tìm đường xâm nhập vào phân tâm học. Những người đưa ra nó bắt đầu từ lý thuyết của Freud rằng con người buộc phải lựa chọn giữa tự nhiên và văn hóa, và rằng, để tận hưởng nền văn minh, anh ta nhất thiết phải từ bỏ những thôi thúc của mình. [26] Một số nhà tâm lý học đã liên kết sự tha hóa với chứng loạn thần xuất hiện ở một số cá nhân nhất định là kết quả của sự lựa chọn đầy xung đột này, do đó làm giảm toàn bộ vấn đề rộng lớn của sự tha hóa thành một hiện tượng chủ quan đơn thuần.

Tác giả giải quyết vấn đề tha hóa nhất từ ​​bên trong phân tâm học là Erich Fromm. Không giống như hầu hết các đồng nghiệp của mình, ông không bao giờ tách rời những biểu hiện của nó khỏi bối cảnh lịch sử tư bản chủ nghĩa; quả thực, các cuốn sách của ông The Sane Society (1955) và Marx’s Concept of Man (1961) đã sử dụng khái niệm này để cố gắng xây dựng một cầu nối giữa phân tâm học và chủ nghĩa Marx. Tuy nhiên, Fromm cũng luôn đặt trọng tâm chính vào tính chủ quan, và khái niệm về sự tha hóa của ông, được ông tóm tắt là ‘một phương thức trải nghiệm trong đó cá nhân trải nghiệm bản thân như người xa lạ’, [27] vẫn quá chú trọng vào cá nhân. Hơn nữa, bản tường trình của ông về khái niệm của Marx chỉ dựa trên Bản thảo kinh tế-triết học năm 1844 và cho thấy sự thiếu hiểu biết sâu sắc về tính cụ thể và trung tâm của lao động tha hóa trong tư tưởng của Marx. Sự thiếu hụt này đã ngăn Fromm đưa ra sức nặng phù hợp với sự tha hóa khách quan (của người lao động trong quá trình lao động và trong mối quan hệ với sản phẩm lao động) và đưa ông ta đến những vị trí có vẻ khó khăn khi họ bỏ qua các mối quan hệ cấu trúc cơ bản.

‘Marx tin rằng giai cấp công nhân là giai cấp bị tha hóa nhất …. [Ông] không lường trước được mức độ mà sự tha hóa sẽ trở thành số phận của đại đa số mọi người …. , người chủ, ngày nay thậm chí còn tha hóa hơn so với người lao động chân tay lành nghề. Hoạt động của người thứ hai vẫn phụ thuộc vào việc thể hiện một số phẩm chất cá nhân nhất định như kỹ năng, độ tin cậy, v.v. và anh ta không bị buộc phải bán “nhân cách”, nụ cười, ý kiến ​​của mình để mặc cả. ”[28]

Một trong những lý thuyết chính phi Marxist về sự tha hóa là lý thuyết gắn liền với Jean-Paul Sartre và các nhà hiện sinh Pháp. Thật vậy, vào những năm 1940, được đánh dấu bởi sự khủng khiếp của chiến tranh và sự đau khổ về lương tâm sau đó, hiện tượng tha hóa – một phần dưới ảnh hưởng của chủ nghĩa tân Hegel của Alexandre Kojève [29] – đã trở thành một tài liệu tham khảo thường xuyên cả trong triết học và văn học tự sự. Tuy nhiên, một lần nữa, khái niệm này chung chung hơn nhiều so với tư tưởng của Marx, trở nên đồng nhất với sự bất bình lan tỏa của con người trong xã hội, sự chia rẽ giữa cá nhân con người và trải nghiệm thế giới, và một tình trạng không thể vượt qua được. Các nhà triết học theo chủ nghĩa hiện sinh không đề xuất nguồn gốc xã hội cho sự tha hóa, nhưng coi nó là nguồn gốc xã hội chắc chắn bị ràng buộc với tất cả sự ‘phiến diện’ (chắc chắn là sự thất bại của kinh nghiệm chính quyền Soviet đã ủng hộ một quan điểm như vậy) và tính khác của con người. Năm 1955, Jean Hippolyte đã đặt ra quan điểm này trong một trong những tác phẩm quan trọng nhất theo khuynh hướng này:

‘[Sự tha hóa] dường như không chỉ có thể hiểu được khái niệm về sự tha hóa của con người dưới chủ nghĩa tư bản, như Marx hiểu về nó. Vấn đề thứ hai chỉ là một trường hợp cụ thể của một vấn đề phổ quát hơn về sự tự ý thức của con người, vốn không thể tự cho mình là một cogito biệt lập, chỉ có thể nhận ra chính nó trong một từ mà nó cấu tạo, trong những bản thể khác mà nó nhận ra và bởi nó thỉnh thoảng bị từ chối. Nhưng cách thức khám phá bản thân này thông qua Cái khác biệt, sự khách quan hóa này, luôn ít nhiều là một sự tha hóa, đánh mất bản thân và đồng thời là một sự khám phá bản thân. Do đó, khách thể hóa và khách quan hóa là không thể tách rời, và sự kết hợp của chúng chỉ đơn giản là biểu hiện của một phép biện chứng được quan sát thấy trong chính sự vận động của lịch sử. ”[30]

Marx đã giúp phát triển một sự phê phán về sự khuất phục của con người, dựa trên sự phản đối quan hệ sản xuất tư bản chủ nghĩa. Những người theo chủ nghĩa hiện sinh đi theo một quỹ đạo ngược lại, cố gắng tiếp thu những phần tác phẩm của Marx mà họ cho là hữu ích cho cách tiếp cận của họ, trong một cuộc thảo luận triết học đơn thuần mà không có một phê bình lịch sử cụ thể nào. [31]

IV. Cuộc tranh luận về các tác phẩm đầu tiên của Marx về sự tha hóa
Cuộc tranh luận về sự tha hóa phát triển ở Pháp thường dựa trên các lý thuyết của Marx. Tuy nhiên, thông thường, nó chỉ đề cập đến các Bản thảo Kinh tế-Triết học năm 1844; ngay cả các phần của Tư bản mà Lukács đã sử dụng để xây dựng lý thuyết cải cách của mình cũng không được xem xét. Hơn nữa, một số câu trong Bản thảo năm 1844 đã được đưa ra khỏi ngữ cảnh và chuyển thành những trích dẫn giật gân được cho là chứng minh sự tồn tại của một ‘Marx mới’ hoàn toàn khác, thấm đẫm triết học và không có thuyết kinh tế mà các nhà phê bình gán cho Tư Bản (thường là chưa đọc nó). Một lần nữa, trên cơ sở các văn bản năm 1844, các nhà hiện sinh Pháp cho đến nay đã nhấn mạnh nhiều nhất đến khái niệm về sự tự tha hóa (Selbstentfremdung), tức là sự tha hóa ( xa lánh) của người lao động khỏi loài người và với những người khác như chính anh ta – một hiện tượng mà Marx đã thảo luận trong các tác phẩm đầu tiên của mình, nhưng luôn luôn liên quan đến sự xa rời khách quan.

Quan điểm tương tự cũng xuất hiện ở một nhân vật hàng đầu của lý thuyết chính trị thời hậu chiến, Hannah Arendt. Trong Tình trạng con người (1958), bà đã xây dựng bài tường thuật của mình về khái niệm tha hóa của Marx xung quanh các Bản thảo kinh tế-triết học năm 1844, thậm chí sau đó chỉ cô lập một trong những kiểu mà Marx đề cập ở đó: xa lánh tha hóa chủ quan. Điều này cho phép bà ấy khẳng định:

‘Chiếm đoạt và tha hóa thế giới thật trùng hợp, và thời hiện đại, rất chống lại ý định của tất cả các diễn viên trong vở kịch, bắt đầu bằng việc tha hóa một số tầng lớp dân cư khỏi thế giới. […] Sự tha hóa thế giới, chứ không phải sự tự tha hóa như Marx nghĩ, đã là dấu ấn của thời đại hiện đại. ”[32]

Bằng chứng về sự liên quan ít ỏi của bà với tác phẩm trưởng thành của Marx là thực tế rằng, khi thừa nhận rằng Marx ‘không hoàn toàn không nhận thức được những tác động của sự tha hóa thế giới trong nền kinh tế tư bản’, bà chỉ nhắc đến một vài dòng trong tác phẩm báo chí rất sớm của ông, ‘The Các cuộc tranh luận về Luật trộm cắp gỗ ‘(1842), không dài hàng chục trang quan trọng hơn nhiều trong Tư Bản và các bản thảo chuẩn bị dẫn đến nó. Kết luận đáng ngạc nhiên của bà là: “những cân nhắc không thường xuyên như vậy [đã] đóng một vai trò nhỏ trong công việc của ông ấy, điều này vẫn bám rễ chắc chắn vào chủ nghĩa chủ quan cực đoan của thời đại hiện đại”. [33] Việc Marx ưu tiên ‘tự tha hóa’ ở đâu và như thế nào trong phân tích của ông về xã hội tư bản vẫn là một bí ẩn mà Arendt chưa bao giờ làm sáng tỏ trong các bài viết của bà.

Vào những năm 1960, lý thuyết về sự tha hóa trong Bản thảo Kinh tế-Triết học năm 1844 đã trở thành mấu chốt gây tranh cãi trong việc giải thích rộng rãi hơn công trình của Marx. Có ý kiến ​​cho rằng cần có sự phân biệt rõ ràng giữa ‘Marx thời kỳ đầu’ và ‘Marx trưởng thành’ – một sự đối lập độc đoán và giả tạo được cả những người ưa thích tác phẩm triết học ban đầu và những người ủng hộ Marx (trong số đó có Louis Althusser và các học giả Nga). Trong khi lý thuyết trước đây coi lý thuyết về sự tha hóa trong Bản thảo Kinh tế-Triết học năm 1844 là phần quan trọng nhất trong phê bình xã hội của Marx, thì lý thuyết sau thường thể hiện sự ‘ám ảnh về sự tha hóa’ thực sự và lúc đầu cố gắng hạ thấp mức độ liên quan của nó [34]; hoặc, khi chiến lược này không còn khả thi nữa, toàn bộ chủ đề về sự tha hóa đã được viết tắt là ‘một peccadillo trẻ trung, một tàn dư của chủ nghĩa Hegel’ [35] mà sau này Marx đã từ bỏ. Các học giả đầu tiên phản bác lại rằng các bản thảo năm 1844 được viết bởi một người đàn ông hai mươi sáu tuổi vừa mới bắt tay vào nghiên cứu chính của mình; nhưng những người khác vẫn từ chối chấp nhận tầm quan trọng của lý thuyết về sự tha hóa của Marx, ngay cả khi việc xuất bản các văn bản mới nói rõ rằng ông không bao giờ mất hứng thú với nó và nó chiếm một vị trí quan trọng trong các giai đoạn chính của cuộc đời ông.

Cũng như nhiều người đã tranh luận rằng lý thuyết về sự tha hóa trong Bản thảo năm 1844 là chủ đề trung tâm trong tư tưởng của Marx rõ ràng là sai lầm đến mức nó chứng tỏ không hơn gì sự thiếu hiểu biết về công việc của ông. [36] Mặt khác, khi Marx một lần nữa trở thành tác giả được thảo luận và trích dẫn thường xuyên nhất trong văn học triết học thế giới vì những trang mới xuất bản của ông về sự tha hóa, thì sự im lặng từ Liên Xô về toàn bộ chủ đề này, và về những tranh cãi liên quan đến nó, đã tạo ra một ví dụ nổi bật về việc sử dụng nhạc cụ trong các tác phẩm của ông ở quốc gia đó. Vì sự tồn tại của người ngoài xa lạ ở Liên Xô và các vệ tinh của nó đã bị gạt ra ngoài tầm kiểm soát, và mọi văn bản liên quan đến câu hỏi này đều bị nghi ngờ. Như Henri Lefebvre đã nói, ‘trong xã hội Soviet , sự tha hóa có thể và không còn phải là một vấn đề nữa. Theo thứ tự từ trên xuống, vì lý do Nhà nước, khái niệm này phải biến mất. ”[37] Do đó, cho đến những năm 1970, rất ít tác giả trong‘ phe xã hội chủ nghĩa ’chú ý đến các tác phẩm được đề cập.

Một số tác giả phương Tây nổi tiếng cũng hạ thấp mức độ phức tạp của hiện tượng này. Lucien Goldmann, chẳng hạn, cho rằng có thể vượt qua sự tha hóa trong các điều kiện kinh tế – xã hội thời bấy giờ, và trong tác phẩm Phép biện chứng Recherches (1959) của ông đã lập luận rằng nó sẽ biến mất, hoặc suy thoái, chỉ dưới tác động của các kế hoạch. Ông viết: “Cải cách hóa”, “trên thực tế là một hiện tượng bị ràng buộc chặt chẽ với việc không có kế hoạch và sản xuất cho thị trường”; Chủ nghĩa xã hội của Liên Xô ở phương Đông và các chính sách của Keynes ở phương Tây đã dẫn đến “trong trường hợp đầu tiên là xóa bỏ sự cải cách, và trong trường hợp thứ hai là sự suy yếu dần dần của nó”. [38] Lịch sử đã chứng minh sự kỳ lạ trong những tiên đoán của ông.

V. Sự mê hoặc không thể cưỡng lại của lý thuyết về sự tha hóa
Vào những năm 1960, một sự thịnh hành thực sự bắt đầu cho các lý thuyết về sự tha hóa, và hàng trăm cuốn sách và bài báo đã được xuất bản trên khắp thế giới. Đó là thời đại của sự tha hóa chào đón tòa án. Các tác giả từ nhiều nền tảng chính trị và lĩnh vực học thuật khác nhau đã xác định nguyên nhân của nó là do hàng hóa, chuyên môn hóa quá mức, chủ nghĩa cá nhân, quan liêu hóa, chủ nghĩa tuân thủ, chủ nghĩa tiêu dùng, đánh mất cảm giác về bản thân trong bối cảnh công nghệ mới, thậm chí là sự cô lập cá nhân, sự thờ ơ, bị gạt ra ngoài lề xã hội hoặc sắc tộc và ô nhiễm môi trường.

Khái niệm tha hóa dường như thể hiện tinh thần của thời đại đến sự hoàn thiện, và thực sự, trong sự phê phán xã hội tư bản, nó đã trở thành điểm hẹn cho chủ nghĩa triết học chống Liên Xô và các trào lưu dân chủ và tiến bộ nhất trong thế giới Công giáo. Tuy nhiên, sự phổ biến của khái niệm này, và sự áp dụng bừa bãi của nó, đã tạo ra một sự mơ hồ sâu sắc về mặt thuật ngữ. [39] Trong khoảng thời gian vài năm, sự xa lánh do đó đã trở thành một công thức trống rỗng nằm ngay trên phạm vi bất hạnh của con người – bao trùm tất cả đến mức nó tạo ra niềm tin rằng nó không bao giờ có thể sửa đổi được. [40]

Với cuốn sách The Society of the Spectacle của Guy Debord, cuốn sách ngay sau khi xuất bản lần đầu tiên vào năm 1967, trở thành một tuyên ngôn thực sự cho thế hệ sinh viên trong cuộc nổi dậy chống lại hệ thống, thuyết tha hóa gắn liền với sự phê phán sản xuất phi vật chất. Dựa trên luận điểm của Horkheimer và Adorno, theo đó hoạt động sản xuất tuân theo trật tự xã hội đã lan rộng sang ngành công nghiệp giải trí, Debord lập luận rằng lĩnh vực phi lao động không còn có thể được coi là tách rời khỏi hoạt động sản xuất:

“Trong khi trong giai đoạn sơ khai của quá trình tích lũy tư bản” nền kinh tế chính trị chỉ coi người vô sản là người lao động “, người chỉ cần được phân bổ tối thiểu tất yếu để duy trì sức lao động của mình, và không bao giờ coi người đó là người” nhàn rỗi và nhân đạo “, quan điểm giai cấp này được sửa đổi ngay khi sự phong phú của hàng hóa đạt đến mức cần sự cộng tác bổ sung từ anh ta. Khi ngày làm việc của anh ta kết thúc, người công nhân đột nhiên được giải thoát khỏi sự khinh bỉ hoàn toàn đối với anh ta, điều được ngụ ý rõ ràng trong mọi khía cạnh của tổ chức và giám sát sản xuất, và thấy mình dường như được đối xử như một người đàng hoàng, với một sự thể hiện lịch sự, trong vai trò mới của anh ấy với tư cách là người tiêu dùng. Tại thời điểm này, chủ nghĩa nhân văn của hàng hóa phụ trách “sự nhàn rỗi và tính nhân văn” của người lao động đơn giản bởi vì kinh tế chính trị hiện nay có thể và phải thống trị những lĩnh vực đó. ”[41]

Đối với Debord, khi đó, trong khi sự thống trị của nền kinh tế đối với đời sống xã hội ban đầu có hình thức là “suy thoái”, thì trong “giai đoạn hiện tại” đã có một “sự thay đổi chung phải xuất hiện”. [42] Ý tưởng này đã khiến ông đặt thế giới của cảnh tượng vào trung tâm của phân tích của mình: ‘Chức năng xã hội của cảnh tượng là sản xuất cụ thể của sự tha hóa’, [43] hiện tượng mà qua đó ‘chủ nghĩa tôn sùng hàng hóa … đạt được sự hoàn thiện cuối cùng’. [44] Trong những trường hợp này, sự tha hóa tự khẳng định ở mức độ thực sự trở thành một trải nghiệm thú vị cho các cá nhân, một thứ thuốc phiện mới của con người khiến họ tiêu thụ và ‘đồng nhất với những hình ảnh thống trị’, [45] đưa họ ngày càng xa mong muốn của riêng mình và sự tồn tại thực sự:

‘Cảnh tượng là giai đoạn mà hàng hóa đã thành công trong việc thực dân hóa hoàn toàn đời sống xã hội …. Sản xuất kinh tế hiện đại mở rộng chế độ độc tài cả về chiều rộng lẫn chiều sâu. […] Với “cuộc cách mạng công nghiệp lần thứ hai”, tiêu dùng bị tha hóa đã trở thành nghĩa vụ của quần chúng cũng giống như việc sản xuất bị tha hóa. ”[46]

Sau Debord, Jean Baudrillard cũng đã sử dụng khái niệm tha hóa để giải thích một cách phê phán những thay đổi xã hội đã xuất hiện với chủ nghĩa tư bản trưởng thành. Trong Xã hội tiêu dùng (1970), tách mình ra khỏi sự tập trung của chủ nghĩa Marx về vị trí trung tâm của sản xuất, ông đã xác định tiêu dùng là yếu tố chính trong xã hội hiện đại. “Thời đại tiêu dùng”, trong đó quảng cáo và thăm dò dư luận tạo ra nhu cầu giả mạo và sự đồng thuận của quần chúng, cũng là “thời đại của sự tha hóa triệt để”.

‘Logic hàng hóa đã trở nên khái quát và ngày nay không chỉ chi phối các quá trình lao động và sản phẩm vật chất, mà còn chi phối toàn bộ văn hóa, tình dục và các mối quan hệ giữa con người, bao gồm cả những tưởng tượng và động lực cá nhân …. Mọi thứ đều được mô phỏng hóa hay nói cách khác, được gợi lên, được kích động và sắp xếp thành hình ảnh, dấu hiệu, mô hình có thể tiêu thụ được. ‘[47]

Tuy nhiên, các kết luận chính trị của Baudrillard khá bối rối và bi quan. Đối mặt với sự lên men của xã hội trên quy mô lớn, ông nghĩ rằng “những kẻ nổi loạn của tháng 5 năm 1968” đã rơi vào cái bẫy của việc “cải tiến các đối tượng và tiêu thụ quá mức theo giá trị của chúng”; và anh ấy chỉ trích ‘tất cả những lời miệt thị về “sự tha hóa”, và tất cả những thế lực chế nhạo của nhạc pop và phản nghệ thuật’ chỉ là một ‘bản cáo trạng [đó] là một phần của trò chơi: đó là ảo ảnh phê phán, phản truyện ngụ ngôn xoay quanh ngoài truyện ngụ ngôn ‘. [48] Giờ đã cách xa chủ nghĩa Marx một chặng đường dài, mà giai cấp công nhân là điểm tham chiếu xã hội để thay đổi thế giới, ông kết thúc cuốn sách của mình với một lời kêu gọi thiên sai, chung chung như phù du: ‘Chúng ta sẽ chờ đợi những sự bùng nổ bạo lực và sự tan rã đột ngột sẽ đến, không thể lường trước và chắc chắn là vào tháng 5 năm 1968, để phá hủy Thánh lễ trắng này. ‘[49]

VI. Lý thuyết ngoại lai trong xã hội học Bắc Mỹ
Vào những năm 1950, khái niệm về sự tha hóa cũng đã đi vào từ vựng của xã hội học Bắc Mỹ, nhưng cách tiếp cận đối tượng ở đó hoàn toàn khác so với cách tiếp cận phổ biến ở châu Âu vào thời điểm đó. Xã hội học dòng chính coi sự tha hóa như một vấn đề của cá nhân con người, không phải của các mối quan hệ xã hội, [50] và việc tìm kiếm các giải pháp tập trung vào năng lực của các cá nhân để điều chỉnh theo trật tự hiện có, chứ không phải dựa trên các hoạt động tập thể để thay đổi xã hội. [51]

Ở đây cũng vậy, đã có một thời gian dài không chắc chắn trước khi một định nghĩa rõ ràng và được chia sẻ thành hình. Một số tác giả coi sự tha hóa là một hiện tượng tích cực, một phương tiện thể hiện sự sáng tạo vốn có trong thân phận con người nói chung. [52] Một quan điểm phổ biến khác cho rằng nó xuất phát từ sự rạn nứt giữa cá nhân và xã hội; [53] Seymour Melman, ví dụ, theo dấu vết của sự xa lánh đối với sự phân chia giữa việc xây dựng và thực thi các quyết định, và cho rằng nó ảnh hưởng đến người lao động và người quản lý. [54] Trong ‘A Measure of Alienation’ (1957), mở đầu cuộc tranh luận về khái niệm trên Tạp chí Xã hội học Hoa Kỳ, Gwynn Nettler đã sử dụng một cuộc khảo sát ý kiến ​​như một cách để cố gắng thiết lập một định nghĩa. Nhưng, trái ngược hẳn với truyền thống vận động lao động khắt khe về điều tra điều kiện làm việc, bảng câu hỏi của ông dường như lấy cảm hứng từ các quy tắc McCarthyite thời bấy giờ hơn là từ nghiên cứu khoa học. [55] Vì thực tế, ông đã xác định sự xa lánh với việc bác bỏ các nguyên tắc bảo thủ của xã hội Mỹ: ‘duy trì nhất quán các thái độ không ưa chuộng và ác cảm đối với chủ nghĩa gia đình, các phương tiện truyền thông đại chúng và thị hiếu đại chúng, các sự kiện hiện tại, giáo dục bình dân, tôn giáo thông thường và quan điểm viễn tưởng về cuộc sống, chủ nghĩa dân tộc và quy trình bỏ phiếu ‘. [56]

Khi đó, xã hội học Mỹ nhìn chung coi tha hóa là một vấn đề liên quan đến hệ thống sản xuất công nghiệp, dù là tư bản chủ nghĩa hay xã hội chủ nghĩa, và chủ yếu ảnh hưởng đến ý thức con người. [60] Sự thay đổi cách tiếp cận lớn này cuối cùng đã hạ cấp, hoặc thậm chí bị loại trừ, phân tích các yếu tố lịch sử – xã hội quyết định sự tha hóa, tạo ra một kiểu siêu tâm lý hóa coi đó không phải là một vấn đề xã hội mà là một triệu chứng bệnh lý của cá nhân, có thể chữa được ở cấp độ cá nhân. [61] Trong khi theo truyền thống Marxist, khái niệm tha hóa đã góp phần vào một số phê phán gay gắt nhất đối với phương thức sản xuất tư bản chủ nghĩa, thì việc thể chế hóa nó trong lĩnh vực xã hội học đã làm giảm nó thành một hiện tượng cá nhân không phù hợp với các chuẩn mực xã hội. Theo cách tương tự, chiều kích phê phán mà khái niệm này có trong triết học (ngay cả đối với các tác giả nghĩ rằng đó là một chân trời không bao giờ có thể vượt qua) giờ đã nhường chỗ cho một sự trung lập ảo tưởng. [62]

Một tác động khác của sự biến chất này là sự nghèo nàn về mặt lý thuyết của khái niệm. Từ một hiện tượng phức tạp liên quan đến hoạt động lao động của con người và sự tồn tại xã hội và trí tuệ, sự tha hóa đã trở thành một phạm trù được phân chia theo từng chuyên ngành nghiên cứu học thuật. [63] Các nhà xã hội học Mỹ lập luận rằng lựa chọn phương pháp luận này cho phép họ giải phóng nghiên cứu về sự tha hóa khỏi bất kỳ ý nghĩa chính trị nào và mang lại cho nó tính khách quan khoa học. Nhưng, trên thực tế, sự ‘quay lưng’ chính trị này có ý nghĩa rõ ràng về mặt ý thức hệ, vì sự ủng hộ các giá trị thống trị và trật tự xã hội nằm ẩn sau ngọn cờ phi tư tưởng hóa và trung lập hóa giá trị.

Vì vậy, sự khác biệt giữa quan niệm xã hội học của Marx và Mỹ về sự tha hóa không phải là quan niệm trước đây là chính trị và quan niệm sau là khoa học. Đúng hơn, các nhà lý luận Marxist là những người mang những giá trị đối lập với những giá trị bá quyền trong xã hội Mỹ, trong khi các nhà xã hội học Mỹ đề cao những giá trị của trật tự xã hội hiện có, khéo léo khoác lên mình những giá trị vĩnh cửu của loài người. [64] Trong bối cảnh học thuật Hoa Kỳ, khái niệm tha hóa đã trải qua một sự bóp méo thực sự và cuối cùng được sử dụng bởi những người bảo vệ chính các tầng lớp xã hội mà nó đã hướng tới từ lâu. [65]

VII. Tha hóa trong Tư Bản và các bản thảo khác
Các bài viết của Marx đóng một vai trò quan trọng đối với những người đang tìm cách chống lại tình trạng này. Sự tập trung ban đầu vào các Bản thảo Kinh tế-Triết học năm 1844 có xu hướng thay đổi sau khi các văn bản mới được xuất bản, giúp cho việc tái tạo lại sự phát triển tư tưởng của ông một cách chính xác hơn.

Trong nửa sau của những năm 1840, Marx không còn sử dụng thường xuyên thuật ngữ ‘tha hóa’ nữa; các trường hợp ngoại lệ chính là cuốn sách đầu tiên của ông, The Holy Family (1845), đồng tác giả với Engels, nơi nó xuất hiện trong một số cuộc luận chiến chống lại Bruno và Edgar Bauer, và một đoạn trong cuốn Tư tưởng Đức (1845-6), cũng được viết với Engels. Khi ông đã từ bỏ ý định xuất bản cuốn Tư tưởng Đức, ông quay lại với lý thuyết về sự tha hóa trong Lao động tiền lương và Tư bản, một tập hợp các bài báo dựa trên các bài giảng mà ông đã thuyết trình cho Liên đoàn Công nhân Đức ở Brussels năm 1847, nhưng bản thân thuật ngữ này thì không xuất hiện trong chúng, bởi vì nó sẽ có một vòng quá trừu tượng đối với thính giả của ông. Trong các văn bản này, ông viết rằng lao động làm công ăn lương không tham gia vào ‘hoạt động cuộc sống của chính họ’ mà thể hiện ‘sự hy sinh mạng sống của anh ta’. Sức lao động là một thứ hàng hóa mà người lao động buộc phải bán để “sống”, và “sản phẩm của hoạt động của anh ta không phải là đối tượng của hoạt động của anh ta”: [66]

‘người công nhân, trong mười hai giờ dệt, quay, khoan, quay, xây, xẻng, đập đá, gánh vác, v.v. – anh ta có coi đây là mười hai giờ dệt, quay, khoan, xây dựng, xẻng, đập, … như một biểu hiện của cuộc sống của mình, như cuộc sống? Ngược lại, cuộc sống bắt đầu là khi với anh ta, khi những hoạt động này chấm dứt, trên bàn, trong nhà công cộng, trên giường. Mặt khác, lao động mười hai giờ không có ý nghĩa gì đối với anh ta như dệt vải, quay sợi, khoan, v.v. mà là thu nhập đưa anh ta lên bàn ăn, đến nhà chung, lên giường. Nếu con tằm quay để tiếp tục tồn tại như một con sâu bướm, nó sẽ là một người làm công ăn lương hoàn chỉnh. ‘[67]

Cho đến cuối những năm 1850, không còn tài liệu nào đề cập đến lý thuyết về sự tha hóa trong tác phẩm của Marx. Sau thất bại của các cuộc cách mạng năm 1848, ông bị buộc phải lưu vong ở London; khi ở đó, ông tập trung toàn bộ sức lực vào việc nghiên cứu kinh tế chính trị và ngoài một số tác phẩm ngắn có đề tài lịch sử, [68] không xuất bản một cuốn sách nào khác. Tuy nhiên, khi ông bắt đầu viết lại về kinh tế học, trong Nền tảng của sự phê phán kinh tế chính trị (hay được biết đến với tên gọi Grundrisse), ông đã hơn một lần sử dụng thuật ngữ ‘tha hóa’. Văn bản này nhắc lại về nhiều khía cạnh các phân tích của Bản thảo Kinh tế-Triết học năm 1844, mặc dù gần một thập kỷ nghiên cứu trong Thư viện Anh đã cho phép ông làm cho chúng trở nên sâu sắc hơn đáng kể:

‘Tính chất xã hội của hoạt động, cũng như hình thức xã hội của sản phẩm, và tỷ trọng của các cá nhân trong sản xuất ở đây dường như là một cái gì đó tha hóa, xa lạ và khách quan, đối đầu với các cá nhân, không phải như mối quan hệ của họ với nhau, mà là sự phụ thuộc của họ vào các mối quan hệ tồn tại độc lập với chúng và phát sinh do va chạm giữa các cá nhân thờ ơ với nhau. Sự trao đổi chung của các hoạt động và sản phẩm, đã trở thành điều kiện quan trọng đối với mỗi cá nhân – sự liên kết lẫn nhau của họ – ở đây dường như là một thứ gì đó tha hóa, xa lạ với họ, tự trị, như một sự vật. Trong giá trị trao đổi, mối liên hệ xã hội giữa người với người được chuyển thành mối quan hệ xã hội giữa các sự vật; năng lực cá nhân thành của cải khách quan. ‘[69]

Sau đó, tường thuật về sự tha hóa trong Grundrisse được làm phong phú hơn nhờ sự hiểu biết sâu sắc hơn về các phạm trù kinh tế và bằng cách phân tích xã hội chặt chẽ hơn. Mối liên hệ mà nó thiết lập giữa sự tha hóa và giá trị trao đổi là một khía cạnh quan trọng của vấn đề này. Và, trong một trong những đoạn văn chói lọi nhất về hiện tượng xã hội hiện đại này, Marx liên kết sự tha hóa với sự đối lập giữa tư bản và “sức lao động sống”:

‘Điều kiện khách quan của sức lao động sống xuất hiện với tư cách là những giá trị tách rời, độc lập đối lập với năng lực lao động sống với tư cách là chủ thể …. Điều kiện khách quan của năng lực lao động sống được cho là tồn tại độc lập với nó, như là tính khách quan của một chủ thể khác biệt với hoạt động sống năng lực lao động và đứng độc lập đối với nó; Do đó, sự tái sản xuất và hiện thực hóa, tức là sự mở rộng của những điều kiện khách quan này, đồng thời là sự tái sản xuất của chính họ và sự sản xuất mới với tư cách là của cải của một chủ thể xa lạ đối lập với sức lao động một cách thờ ơ và độc lập. Những gì được tái tạo và sản sinh lại không chỉ là sự hiện diện của những điều kiện khách quan của lao động sống, mà còn là sự hiện diện của chúng với tư cách là những giá trị độc lập, tức là những giá trị thuộc về một chủ thể xa lạ, đương đầu với khả năng lao động sống này. Các điều kiện khách quan của lao động đạt được sự tồn tại chủ quan đối với sức lao động sống – biến thành tư bản. “[70]

Grundrisse không phải là văn bản duy nhất về quá trình trưởng thành của Marx mô tả về sự tha hóa. Năm năm sau khi nó được sáng tác, ‘Kết quả của quá trình sản xuất tức thời’ – còn được gọi là ‘Tư bản, Tập một: Quyển 1, Chương VI, chưa được xuất bản’ (1863-4) – mang lại những phân tích kinh tế và chính trị về sự tha hóa nhiều hơn, chặt chẽ với nhau. Marx viết: “Sự cai trị của nhà tư bản đối với người lao động, là sự cai trị của vạn vật đối với con người, đối với lao động chết đối với người sống, của sản phẩm đối với người sản xuất.” [71] Trong xã hội tư bản, nhờ ‘ Sự chuyển đổi năng suất xã hội của lao động thành các thuộc tính vật chất của tư bản ‘, [72] thực sự có một sự’ nhân cách hóa sự vật và cải tạo con người ‘, tạo ra hình thức rằng’ các điều kiện vật chất của lao động không phụ thuộc vào người lao động, nhưng mà là anh ta đối với tư bản ‘. [73] Trong thực tế, ông lập luận:

‘Tư Bản không phải là một thứ, bất cứ thứ gì hơn tiền là một thứ. Tư bản cũng như tiền, những quan hệ xã hội cụ thể về sản xuất giữa người với người xuất hiện với tư cách là quan hệ của vật với người, hoặc quan hệ xã hội nhất định xuất hiện với tư cách là thuộc tính tự nhiên của sự vật trong xã hội. Không có giai cấp phụ thuộc vào tiền lương, thời điểm các cá nhân đối đầu với nhau như những người tự do, không thể có sản xuất giá trị thặng dư; không có sản xuất giá trị thặng dư thì không thể có sản xuất tư bản chủ nghĩa, và do đó không có tư bản và không có tư bản chủ nghĩa! Tư bản và tiền lương – lao động (do đó chúng ta gọi sức lao động của người lao động bán sức lao động của chính mình) chỉ thể hiện hai khía cạnh của mối quan hệ tự thân giống nhau. Tiền không thể trở thành tư bản trừ khi nó được đổi lấy sức lao động, một thứ hàng hóa do chính người lao động bán ra. Ngược lại, công việc chỉ có thể là lao động làm công ăn lương khi những điều kiện vật chất của chính nó đối đầu với nó như quyền tự trị, tài sản, giá trị tồn tại cho bản thân và duy trì bản thân, nói ngắn gọn là tư bản. Nếu tư bản xét về khía cạnh vật chất, tức là về các giá trị sử dụng mà nó có, phải phụ thuộc vào sự tồn tại của nó trên các điều kiện vật chất của lao động, thì về mặt hình thức, những điều kiện vật chất này phải ngang bằng với lao động với tư cách là quyền lực tự trị , với tư cách là giá trị – lao động được khách thể hóa – coi lao động sống như một phương tiện đơn thuần để duy trì và gia tăng bản thân. ‘[74]

Trong phương thức sản xuất tư bản chủ nghĩa, sức lao động của con người trở thành công cụ của quá trình định giá tư bản, mà ‘bằng cách kết hợp sức lao động sống vào các yếu tố cấu thành vật chất của tư bản, … trở thành một con quái vật và … bắt đầu hành động “như thể được tiêu thụ bởi tình yêu ”.” [75] Cơ chế này tiếp tục mở rộng về quy mô, cho đến khi sự hợp tác trong quá trình sản xuất, khám phá khoa học và triển khai máy móc – tất cả đều là các quá trình xã hội thuộc về tập thể – trở thành lực lượng tư bản xuất hiện như một lẽ tự nhiên của nó – tài sản, đối đầu với người lao động dưới hình thức trật tự tư bản chủ nghĩa:

‘Lực lượng sản xuất… được phát triển [bởi] lao động xã hội… xuất hiện với tư cách là lực lượng sản xuất của chủ nghĩa tư bản. […] Tập thể đoàn kết hợp tác, kết hợp trong phân công lao động, sử dụng các lực lượng của tự nhiên và khoa học, sản phẩm của lao động, như máy móc – tất cả những điều này đối đầu với cá nhân người lao động như một cái gì đó xa lạ, khách quan, sẵn sàng -được tạo ra, tồn tại mà không có sự can thiệp của họ, và thậm chí thường xuyên thù địch với họ. Tất cả chúng đều xuất hiện khá đơn giản như những hình thức phổ biến của công cụ lao động. Với tư cách là đối tượng, chúng độc lập với những người lao động mà chúng thống trị. Mặc dù ở một mức độ nào đó, nhà xưởng là sản phẩm của sự kết hợp của công nhân, nhưng toàn bộ trí tuệ và ý chí của nó dường như được kết hợp trong nhà tư bản hoặc những người cấp dưới của anh ta, và người lao động thấy mình phải đối mặt với các chức năng của tư bản sống trong nhà tư bản. ‘ [76]

Thông qua quá trình này, tư bản trở thành một thứ gì đó rất “bí ẩn”. “Các điều kiện lao động chồng chất lên trước mắt người lao động như các lực lượng xã hội, và chúng được coi là một hình thức tư bản hóa.” [77]

Bắt đầu từ những năm 1960, sự phổ biến của ‘Tư Bản, Volume One: Cuốn, Chương VI, chưa được xuất bản’ và trên hết, của Grundrisse đã mở đường cho một quan niệm về sự tha hóa khác với quan niệm về sự tha hóa khi đó là bá chủ trong xã hội học và tâm lý học. Đó là một quan niệm hướng tới việc khắc phục sự tha hóa trong thực tế – hướng tới hành động chính trị của các phong trào xã hội, đảng phái và công đoàn nhằm thay đổi điều kiện sống và làm việc của giai cấp công nhân trong những năm 1930) có thể được coi là ‘thế hệ thứ hai’ của các tác phẩm của Marx về sự tha hóa, do đó, không chỉ cung cấp một cơ sở lý thuyết mạch lạc cho các nghiên cứu mới về sự tha hóa, mà trên hết là một nền tảng tư tưởng chống tư bản cho phong trào chính trị và xã hội phi thường, bùng nổ trên thế giới trong những năm đó. Sự rời bỏ sách vở của các triết gia và giảng đường của các trường đại học, xuống đường và không gian đấu tranh của công nhân, và trở thành phương tiện phê phán xã hội tư sản nói chung.

VIII. Chủ nghĩa tôn sùng hàng hóa và sự tha hóa.
Một trong những câu chuyện hay nhất của Marx về sự tha hóa có trong phần nổi tiếng của Capital trong ‘Chủ nghĩa tôn sùng hàng hóa và bí mật của nó’, nơi ông cho thấy rằng, trong xã hội tư bản, con người bị chi phối bởi những sản phẩm mà họ đã tạo ra. Ở đây, các quan hệ giữa chúng dường như không phải là “quan hệ xã hội trực tiếp giữa người với người …, mà là quan hệ vật chất giữa người với người và quan hệ xã hội giữa các sự vật”: [78]

‘Đặc tính bí ẩn của hình thức hàng hóa bao gồm … thực tế là hàng hóa phản ánh những đặc điểm xã hội của lao động phụ hệ như những đặc điểm khách quan của chính sản phẩm lao động, như những thuộc tính tự nhiên – xã hội. Do đó, nó cũng phản ánh mối quan hệ xã hội của những người sản xuất với tổng số lao động như một mối quan hệ xã hội giữa các đối tượng, một mối quan hệ tồn tại bên ngoài và bên ngoài những người sản xuất. Thông qua sự thay thế này, sản phẩm của lao động trở thành hàng hóa, những thứ nhạy cảm, đồng thời có giá trị siêu nhạy cảm hoặc mang tính xã hội. […] Nó không là gì khác ngoài mối quan hệ xã hội xác định giữa bản thân những người đàn ông mà ở đây, đối với họ, là hình thức tuyệt vời của mối quan hệ giữa các sự vật. Do đó, để tìm ra một phép loại suy, chúng ta phải bay vào cõi sương mù của tôn giáo. Ở đó, các sản phẩm của bộ não con người xuất hiện như những nhân vật tự chủ được ban tặng cho một cuộc sống của riêng họ, chúng có mối quan hệ với nhau và với loài người. Vì vậy, nó nằm trong thế giới hàng hóa với các sản phẩm do bàn tay đàn ông. Tôi gọi đây là chủ nghĩa tôn sùng vốn gắn liền với các sản phẩm lao động ngay khi chúng được sản xuất như hàng hóa, và do đó không thể tách rời khỏi việc sản xuất hàng hóa. ‘[79]

Hai yếu tố trong định nghĩa này đánh dấu ranh giới rõ ràng giữa quan niệm của Marx về sự tha hóa và yếu tố mà hầu hết các tác giả khác mà chúng ta đang thảo luận. Thứ nhất, Marx quan niệm chủ nghĩa tôn giáo không phải là một vấn đề cá nhân mà là một hiện tượng xã hội, không phải là việc của trí óc mà là một quyền lực thực sự, một hình thức thống trị cụ thể, tự nó hình thành trong nền kinh tế thị trường do sự biến đổi của các đối tượng thành các chủ thể. Vì lý do này, phân tích của ông về sự tha hóa không chỉ giới hạn trong sự phân biệt đối xử của từng cá nhân phụ nữ và nam giới, mà mở rộng ra các quá trình xã hội và các hoạt động sản xuất bên dưới nó. Thứ hai, đối với chủ nghĩa tôn sùng Marx thể hiện ở một thực tế lịch sử chính xác của sản xuất, thực tế của lao động làm công ăn lương; nó không phải là một phần của mối quan hệ giữa con người và sự vật, mà là mối quan hệ giữa con người và một dạng khách quan cụ thể: hình thức hàng hóa.

Trong xã hội tư sản, phẩm chất và quan hệ của con người biến thành phẩm chất và quan hệ giữa các sự vật. Lý thuyết về cái mà Lukács gọi là cải cách này đã minh họa cho sự xa rời quan điểm về quan hệ giữa con người với nhau, trong khi khái niệm chủ nghĩa tôn giáo coi nó liên quan đến hàng hóa. Để chỉ trích những người phủ nhận rằng một lý thuyết về sự tha hóa có trong công trình trưởng thành của Marx, chúng ta nên nhấn mạnh rằng chủ nghĩa tôn sùng hàng hóa không thay thế cho sự tha hóa mà chỉ là một khía cạnh của nó. [80]

Tuy nhiên, sự tiến bộ về mặt lý thuyết từ Bản thảo Kinh tế-Triết học năm 1844 đến Tư bản và các tài liệu liên quan của nó, không chỉ bao gồm sự chính xác cao hơn trong vấn đề của ông về sự tha hóa. Ngoài ra còn có một cuộc cải tổ các biện pháp mà Marx cho là cần thiết để khắc phục nó. Trong khi vào năm 1844, ông đã lập luận rằng con người sẽ xóa bỏ sự tha hóa bằng cách xóa bỏ sản xuất tư nhân và phân công lao động, con đường dẫn đến một xã hội không bị tha hóa phức tạp hơn nhiều trong Tư bản và các bản thảo chuẩn bị của nó. Marx cho rằng chủ nghĩa tư bản là một hệ thống trong đó người lao động phải chịu sự chi phối của tư bản và những điều kiện mà nó áp đặt. Tuy nhiên, nó đã tạo ra nền tảng cho một xã hội tiên tiến hơn, và bằng cách khái quát hóa những lợi ích của nó, nhân loại sẽ có thể tiến bộ trên con đường phát triển xã hội nhanh hơn mà nó đã mở ra. Theo Marx, một hệ thống tạo ra sự tích lũy khổng lồ của cải cho một số ít người và sự tước đoạt và bóc lột đối với số đông công nhân nói chung phải được thay thế bằng ‘một hiệp hội những người tự do, làm việc với tư liệu sản xuất chung, và tiêu thụ của họ. Nhiều dạng sức lao động khác nhau trong sự tự nhận thức đầy đủ như một lực lượng lao động xã hội duy nhất ‘. [81] Loại hình sản xuất này sẽ khác với lao động làm công ăn lương vì nó sẽ đặt các yếu tố quyết định của nó dưới sự quản trị tập thể, mang tính chất tổng quát ngay lập tức và chuyển lao động thành một hoạt động xã hội thực sự. Đây là một quan niệm về xã hội ở cực đối lập với “cuộc chiến của tất cả chống lại tất cả” của Hobbes; và việc tạo ra nó không đòi hỏi một quá trình chính trị đơn thuần, mà nhất thiết sẽ liên quan đến việc chuyển đổi lĩnh vực sản xuất. Nhưng sự thay đổi như vậy trong quá trình lao động có giới hạn của nó:

‘Tự do, trong lĩnh vực này, chỉ có thể bao gồm ở chỗ, con người xã hội hóa, những nhà sản xuất liên kết, điều hành sự trao đổi chất của con người với tự nhiên một cách hợp lý, đặt nó dưới sự kiểm soát tập thể của họ thay vì bị nó chi phối như một thứ quyền lực mù quáng; hoàn thành nó với mức tiêu hao năng lượng ít nhất và trong những điều kiện xứng đáng và phù hợp nhất với bản chất con người của họ. ‘[82]

Hệ thống sản xuất hậu tư bản chủ nghĩa này, cùng với tiến bộ khoa học – công nghệ và hậu quả là giảm thời gian lao động, tạo ra khả năng hình thành xã hội mới trong đó lao động cưỡng bức, tha hóa do tư bản áp đặt và tuân theo quy luật của nó dần dần được thay thế bằng hoạt động có ý thức, sáng tạo vượt ra khỏi ách tất yếu, và trong đó các quan hệ xã hội hoàn chỉnh thay thế cho sự trao đổi ngẫu nhiên, không phân biệt do quy luật hàng hóa và tiền tệ quy định. [83] Nó không còn là vương quốc của tự do vốn mà là lãnh địa của tự do chân chính của con người.

 

Dịch bởi Sally Mju

 

References
[1] Histoire et conscience de classe , trans. Kostas Axelos and Jacqueline Bois, Paris: Minuit, 1960.

[2] Georg Lukács, History and Class Consciousness, Cambridge, MA: MIT Press, 1971, xxiv.

[3] Isaak Illich Rubin, Essays on Marx’s Theory of Value, Detroit: Black & Red, 1972, 5.

[4] Ibid., 28 (trans. mod.).

[5] Ibid., 59.

[6] Trên thực tế, Marx đã sử dụng khái niệm tha hóa trước khi ông viết Bản thảo kinh tế-triết học năm 1844. Trong một văn bản ông xuất bản trên tạp chí Deutsch-Französische Jahrbücher (tháng 2 năm 1844), ông viết: ‘Đó là [… ] nhiệm vụ của lịch sử, một khi thế giới khác của sự thật đã biến mất, để thiết lập sự thật của thế giới này. Nhiệm vụ trước mắt của triết học, phục vụ lịch sử, là vạch trần sự tự ghẻ lạnh dưới những hình thức xấu xa của nó một khi hình thức tự ghẻ lạnh thần thánh của con người đã được vạch trần. Vì vậy, sự chỉ trích của trời biến thành sự chỉ trích của trái đất, sự phê bình của tôn giáo thành sự phê bình của luật pháp và sự phê bình của thần học thành sự phê bình của chính trị. ”Karl Marx,‘ A Contribution to the Critique of Hegel’s Philosophy of Right. Giới thiệu ‘, trong Karl Marx, Early Writings, London: Penguin, 1992, 244-5.

[7] Trong các tác phẩm của Marx, người ta tìm thấy thuật ngữ Entfremdung (‘sự ghẻ lạnh’) cũng như Entäusserung. Những từ này có nghĩa khác nhau trong Hegel, nhưng Marx sử dụng chúng một cách đồng nghĩa. See Marcella D’Abbiero, Alienazione in Hegel. Usi e significati di Entäusserung, Entfremdung Veräusserung, Rome: Edizioni dell’Ateneo, 1970, 25-7.

[8] Karl Marx, ‘Economic and Philosophical Manuscripts (1844)’, in Early Writings, 324.

[9] Ibid., 327.

[10] Ibid., 330. Để biết về mô hình phân loại bốn phần của Marx về sự tha hóa, hãy xem Bertell Ollman, Alienation, New York: Cambridge University Press, 1971, 136-52.[11] Karl Marx, ‘Economic and Philosophical Manuscripts (1844)’, 333.

[12] Karl Marx, ‘Excerpts from James Mill’s Elements of Political Economy’, in Early writings, 278.

[13] Martin Heidegger, Being and Time, San Francisco: Harper, 1962, 220-1. Trong lời tựa của cuốn Lịch sử và Ý thức giai cấp được tái xuất bản năm 1967 của mình, Lukács nhận thấy rằng ở Heidegger, sự tha hóa đã trở thành một khái niệm vô hại về mặt chính trị đã ‘nâng tầm phê phán xã hội thành một vấn đề thuần túy triết học’ (Lukács, xxiv). Heidegger cũng cố gắng bóp méo ý nghĩa của khái niệm về sự tha hóa của Marx: trong Bức thư về ‘Chủ nghĩa nhân văn’ (1946), ông đã tán thành lưu ý rằng, “bằng cách trải qua sự xa lánh, [Marx] đạt được một chiều kích thiết yếu của lịch sử” (Martin Heidegger, “Bức thư về chủ nghĩa nhân văn ‘, trong Basic Writings, London: Routledge, 1993, 243) – một công thức sai lầm không có cơ sở trong các bài viết của Marx.

[14] Herbert Marcuse, ‘On the Philosophical Foundation of the Concept of Labor in Economics’, Telos 16 (Summer 1973), 25.

[15] Ibid., 16-17.

[16] Ibid., 25.

[17] Ibid.

[18] Ibid., 14-15.

[19] Herbert Marcuse, Eros and Civilization, Boston: Beacon Press, 1966, 45.

[20] Ibid., 46-7Georges Friedmann có cùng quan điểm, lập luận trong The Anatomy of Work (New York: Glencoe Press, 1964) rằng việc vượt qua sự tha hóa chỉ có thể thực hiện được sau khi giải phóng khỏi công việc.

[21] Marcuse, Eros and Civilization, 156.

[22] Ibid., 155.

[23] Ibid., 198.

[24] Ibid., 155. Cf. ự gợi lên một ‘tính hợp lý tự nhiên không chỉ phù hợp với mà thậm chí còn thúc đẩy sự tiến bộ đối với các hình thức tự do văn minh cao hơn’ (199). Về mối quan hệ giữa công nghệ và tiến bộ, hãy đọc Kostas Axelos, Alienation, Praxis, and Techné in the Thought of Karl Marx, Austin/London: University of Texas Press, 1976.

[25] Max Horkheimer, Theodor W. Adorno, Dialectic of Enlightenment, New York: Seabury Press, 1972, 121.

[26] See Sigmund Freud, Civilization and Its Discontents, New York: Norton, 1962, 62.

[27] Erich Fromm, The Sane Society, New York: Fawcett, 1965, 111.

[28] Erich Fromm, Khái niệm về con người của Marx, New York: Frederick Ungar, 1961, 56-7. Sự thất bại trong việc hiểu đặc điểm cụ thể của lao động bị tha hóa tái diễn trong các tác phẩm của ông về sự tha hóa vào những năm 1960. Trong một bài luận xuất bản năm 1965, ông viết: ‘Người ta phải xem xét hiện tượng tha hóa trong mối liên hệ của nó với lòng tự ái, trầm cảm, cuồng tín và sùng bái thần tượng để hiểu nó một cách đầy đủ.’ , ed., Chủ nghĩa nhân văn xã hội chủ nghĩa, New York: Doubleday, 1965, 221.[29] See Alexandre Kojeve, Introduction to the Reading of Hegel: Lectures on the Phenomenology of Spirit, Ithaca: Cornell University Press, 1980.

[30] Jean Hyppolite, Studies on Marx and Hegel, New York/London: Basic Books, 1969, 88.

[31] Cf.István Mészáros, Marx’s Theory of Alienation, London: Merlin Press, 1970, 241 ff.

[32] Hannah Arendt, The Human Condition, Chicago: University of Chicago Press, 1958, 253-4.

[33] Ibid., 254.

[34] Các giám đốc của Viện Chủ nghĩa Marx Lenin ở Berlin thậm chí còn cố gắng loại bỏ các Bản thảo kinh tế-triết học năm 1844 khỏi các tập đã đánh số của bộ kinh điển Marx-Engels Werke, xếp chúng thành một tập bổ sung với số lượng in nhỏ hơn.[35] Adam Schaff, Alienation as a Social Phenomenon, Oxford: Pergamon Press, 1980, 100.

[36] Xem Daniel Bell, ‘Sự khám phá lại sự tha hóa: Một số ghi chú dọc theo cuộc tìm kiếm lịch sử Marx’, Tạp chí Triết học, tập. LVI, 24 (tháng 11 năm 1959), 933-52, kết luận: ‘trong khi người ta có thể thông cảm với ý tưởng về sự tha hóa, thì việc đọc lại khái niệm này như là chủ đề trung tâm của Marx’, 935 chỉ là điều hoang đường hơn nữa.[37] Henri Lefebvre, Critique of Everyday Life, London: Verso, 1991, 53.

[38] Lucien Goldmann, Recherches dialectiques, Paris: Gallimard, 1959, 101.

[39] Do đó Richard Schacht (Alienation, Garden City: Doubleday, 1970) lưu ý rằng “hầu như không có khía cạnh nào của cuộc sống đương đại mà không được thảo luận về“ sự xa lánh ”; trong khi Peter C. Ludz (‘Alienation as a Concept in the Social Sciences’, reprinted in Felix Geyer and David Schweitzer, eds., Theories of Alienation, Leiden: Martinus Nijhoff, 1976) nhận xét rằng “sự phổ biến của khái niệm này góp phần làm tăng sự mơ hồ về thuật ngữ hiện có”’ (3).

[40] Cf. David Schweitzer, ‘Alienation, De-alienation, and Change: Một cái nhìn tổng quan phê bình về các quan điểm hiện tại trong triết học và khoa học xã hội’’, in Giora Shoham, ed., Alienation and Anomie Revisited, Tel Aviv: Ramot, 1982, đối với người mà ‘chính ý nghĩa của sự tha hóa thường bị pha loãng đến mức vô nghĩa ảo’ (57).

[41] Guy Debord, The Society of the Spectacle, Canberra: Hobgoblin 2002, 13.

[42] Ibid., 9.

[43] Ibid., 11.

[44] Ibid., 12.

[45] Ibid., 11.

[46] Ibid., 13.

[47] Jean Baudrillard, The Consumer Society, London: Sage, 1998, 191.

[48] Ibid., 195-6.

[49] Ibid., 196.

[50] See for example John Clark, ‘Measuring alienation within a social system’, American Sociological Review, vol. 24, n. 6 (December 1959), 849-52.

[51] See Schweitzer, ‘Alienation, De-alienation, and Change’ (note 40), 36-7.

[52] Một ví dụ điển hình cho quan điểm này là ‘Tính không thể tránh khỏi của người ngoài hành tinh’ của Walter Kaufman, phần giới thiệu của ông về tập sách đã được trích dẫn trước đây của Schacht, Alienation. Đối với Kaufman, ‘cuộc sống không có sự xa lánh thật khó sống; điều quan trọng là tăng cường năng lực của nam giới để đối phó với sự tha hóa ‘ (lvi).

[53] Schacht, Alienation, 155.

[54] Seymour Melman, Decision-making and Productivity, Oxford: Basil Blackwell, 1958, 18, 165-6.

[55] Trong số các câu hỏi mà Nettler đưa ra cho một mẫu được coi là dễ bị ‘định hướng xa lạ ’ là: ‘Bạn có thích TV không? Bạn nghĩ gì về mẫu ô tô mới của Mỹ? Bạn có đọc Reader’s Digest không? … Bạn có thích tham gia các hoạt động của nhà thờ không? Bạn có thích các môn thể thao quốc gia (bóng đá, bóng chày) không? ”(‘ Một thước đo của sự tha hóa ’, Tạp chí Xã hội học Hoa Kỳ, tập 22, số 6 (tháng 12 năm 1957), 675). Ông kết luận rằng những câu trả lời tiêu cực là bằng chứng của sự tha hóa: “dường như không có gì nghi ngờ rằng thang đo này đo lường một chiều hướng của sự tha hóa đối với xã hội của chúng ta.”.’

[56] Ibid., 674. Để chứng minh quan điểm của mình, Nettler lưu ý rằng “cho câu hỏi,” Liệu bạn có sớm sống dưới một hình thức chính phủ khác như dưới hình thức hiện tại của chúng tôi không? ” tất cả đều phản hồi với một số dấu hiệu về khả năng và không có sự từ chối nào ‘(674). Ông thậm chí còn đi xa đến mức tuyên bố rằng ‘rằng sự tha hóa có liên quan đến sự sáng tạo. Người ta giả thuyết rằng các nhà khoa học và nghệ sĩ sáng tạo… là những cá nhân bị tha hóa… rằng sự tha hóa có liên quan đến lòng vị tha [và] rằng sự tha hóa của họ dẫn đến hành vi phạm tội ’(676-7).

[57] [57] Melvin Seeman, ‘Về ý nghĩa của việc xa lánh’, Tạp chí Xã hội học Hoa Kỳ, tập. 24, không. 6 (tháng 12 năm 1959), 783-91. Năm 1972, ông thêm một loại thứ sáu vào danh sách: ‘sự ghẻ lạnh văn hóa’. (Xem Melvin Seeman, ‘Alienation and Engagement’, trong Angus Campbell và Philip E. Converse, ấn bản, Ý nghĩa con người của sự thay đổi xã hội, New York: Russell Sage, 1972, 467-527.)

[58] Robert Blauner, Alienation and Freedom , Chicago: University of Chicago Press, 1964, 15.

[59] Ibid., 3.

[60] Cf. Walter R. Heinz, ‘Changes in the Methodology of Alienation Research’, in Felix Geyer and Walter R. Heinz, Alienation, Society and the Individual, New Brunswick/London: Transaction, 1992, 217.

[61] See Felix Geyer and David Schweitzer, ‘Introduction’, in idem, eds., Theories of Alienation (note 39), xxi-xxii, and Felix Geyer, ‘A General Systems Approach to Psychiatric and Sociological De-alienation’, in Giora Shoham, ed. (note 40), 141.

[62] See Geyer and Schweitzer, ‘Introduction’, xx-xxi.

[63] David Schweitzer, ‘Fetishization of Alienation: Unpacking a Problem of Science, Knowledge, and Reified Practices in the Workplace’, in Felix Geyer, ed., Alienation, Ethnicity, and Postmodernism, Westport, Connecticut/London: Greenwood Press, 1996, 23.

[64] Cf. John Horton, ‘The Dehumanization of Anomie and Alienation: a problem in the ideology of sociology’, The British Journal of Sociology, vol. XV, no. 4 (1964), 283-300, and David Schweitzer, ‘Fetishization of Alienation’, 23.

[65] Horton, ‘Dehumanization’. Luận điểm này được Irving Louis Horowitz miêu tả một cách tự hào trong ‘Sự nghiệp kỳ lạ của sự sống xa lạ: cách một khái niệm được biến đổi mà không có sự cho phép của những người sáng lập nó’, trong Felix Geyer, ed. (chú thích 63), 17-19. Theo Horowitz, ‘tha hóabây giờ là một phần của truyền thống trong khoa học xã hội hơn là phản kháng xã hội. Sự thay đổi này xuất hiện với nhận thức ngày càng sâu rộng rằng các thuật ngữ như bị tha hóa không hơn không kém so với việc được tích hợp. Thay vì coi sự tha hóa như được đóng khung bởi sự “ghẻ lạnh” khỏi bản chất thiết yếu của con người do kết quả của một loạt các đòi hỏi tàn nhẫn của tư bản công nghiệp, sự tha hóa trở thành một quyền bất khả xâm phạm, một nguồn năng lượng sáng tạo cho một số người và một biểu hiện của sự lập dị cá nhân đối với những người khác ‘(18).

[66] Karl Marx, ‘Wage Labour and Capital’, in Marx-Engels Collected Works, vol. 9, New York: International Publishers, 1977, 202.

[67] Ibid., 203.

[68] The Eighteenth Brumaire of Louis Bonaparte , Revelations concerning the Communist Trial in Cologne and Revelations of the Diplomatic History of the Eighteenth Century.

[69] Karl Marx, Grundrisse, London: Penguin, 1993, 157. In another passage on alienation (158), we read: ‘Rob the thing of this social power and you must give it to persons to exercise over persons.’

[70] Ibid., 461-2.

[71] Karl Marx, ‘Results of the Immediate Process of Production’, in idem, Capital, Volume 1, London: Penguin, 1976, 990.

[72] Ibid., 1058.

[73] Ibid., 1054.

[74] Ibid., 1005-6 (emphasis in the original).

[75] Ibid., 1007.

[76] Ibid., 1054 (emphasis in the original)

[77] Ibid., 1056.

[78] Karl Marx, Capital,Volume 1, 166.

[79] Ibid., 164-5.

[80] Cf. Schaff, Alienation as a Social Phenomenon, 81.

[81] Capital, Volume 1 , 171.

[82] Karl Marx, Capital, Volume 3, London: Penguin, 1981, 959.

[83] Vì lý do không gian, việc xem xét bản chất chưa hoàn thành và có phần mâu thuẫn trong bản phác thảo của Marx về một xã hội không tha hóa sẽ phải được để lại cho một nghiên cứu trong tương lai.

Categories
Journalism

Công Xã Paris vẫn là cột mốc cho những thay đổi cấp tiến

Công Xã Paris vẫn là cột mốc cho những thay đổi cấp tiến.
Vào ngày này năm 1871, giai cấp công nhân Paris đã giành lấy quyền kiểm soát thủ đô và thành lập Công Xã. Mặc dù chỉ cầm quyền trong vòng hai tháng nhưng đây vẫn là chính phủ của những người lao động đầu tiên trên thế giới và là một ví dụ sinh động về kiểu xã hội mà chính người lao động có thể tạo ra, theo tầm nhìn của riêng họ về tự do và bình đẳng.

Tư sản Pháp luôn luôn thâu tóm tất cả mọi thứ. Kể từ cuộc cách mạng năm 1789, họ là những người duy nhất giàu lên trong thời kỳ thịnh vượng, trong khi giai cấp công nhân thường xuyên phải chịu gánh nặng của các cuộc khủng hoảng. Nhưng sự tuyên bố về nền Cộng Hòa thứ ba sẽ mở ra những chân trời mới và tạo cơ hội cho một sự thay đổi tất yếu. Napoléon III, bị đánh bại trong trận chiến tại Sedan, bị quân Phổ bắt làm tù binh vào ngày 4 tháng 9 năm 1870. Vào tháng 1 năm sau, sau bốn tháng vây hãm thủ đô Paris, Otto von Bismarck đã khiến người Pháp phải đầu hàng và áp đặt một cách khắc nghiệt các điều khoản trong hiệp định đình chiến tiếp theo.

Các cuộc bầu cử quốc gia đã được tổ chức và Adolphe Thiers được bổ nhiệm vào vị trí đứng đầu, nắm quyền hành pháp, với sự ủng hộ của đa số người theo chủ nghĩa Legitimist và Orleanist. Tuy nhiên, tại thủ đô, nơi mà sự bất mãn của dân chúng lớn hơn những nơi khác, các lực lượng cộng hòa và xã hội chủ nghĩa cấp tiến đã quét sạch bàn cờ chính này. Những viễn cảnh về một chính phủ cánh hữu của chế độ Thiers được dự đoán rằng sẽ để lại nguyên vẹn những bất công xã hội, tạo ra gánh nặng chiến tranh cho những người nghèo nhất và tìm cách giải giáp thành phố này, đã kích hoạt một cuộc cách mạng mới vào ngày 18 tháng 3. Thiers và quân đội của hắn không còn lựa chọn nào khác ngoài việc dời trại quân đội đến Versailles.

Đấu tranh và Chính phủ
Để đảm bảo tính hợp pháp dân chủ, quân nổi dậy đã quyết định tổ chức bầu cử tự do ngay lập tức. Vào ngày 26 tháng 3, tuyệt đại đa số người dân Paris (190.000 phiếu so với 40.000) đã bỏ phiếu cho các ứng cử viên ủng hộ cuộc nổi dậy, và bảy mươi trong số 85 đại biểu được bầu, họ tuyên bố ủng hộ cuộc cách mạng. Mười lăm đại diện trong phái ôn hòa của parti des maires, một nhóm bao gồm những người đứng đầu trước đây của một số cơ quan nhất định, ngay lập tức từ chức và không tham gia vào hội đồng của Công Xã; tuy nhiên sau đó họ đã tham gia ngay bởi sự ủng hộ của trường phái Bốn Người Cấp Tiến

Sáu mươi sáu thành viên còn lại đại diện cho một loạt các vị trí và rất khó để phân biệt vì có đến hai đảng phái chính trị. Trong số họ có khoảng hai mươi người cộng hòa tân Jacobin (bao gồm cả Charles Delescluze và Félix Pyat nổi tiếng), một tá tín đồ của Auguste Blanqui, mười bảy thành viên của Hiệp hội Nam giới Công tác Quốc tế (cả hai đảng phái trong đó có một đảng đều là tín đồ của Pierre-Joseph Proudhon và ngoài ra còn một vài những người theo chủ nghĩa cộng đồng có liên hệ với Karl Marx, hai phe thường mâu thuẫn với nhau), và một vài người độc lập.

Hầu hết các lãnh đạo của Công Xã là công nhân hoặc đại diện được công nhận của giai cấp công nhân, và mười bốn người được ca ngợi là thuộc lực lượng Vệ binh Quốc Gia. Trên thực tế, chính ủy ban trung ương sau này đã tập trung quyền lực vào tay Công Xã – phần mở đầu cho một loạt bất đồng và xung đột kéo dài giữa hai cơ quan, cơ quan công nhân và Vệ Binh Quốc Gia.

Vào ngày 28 tháng 3, một số lượng lớn công dân đã tập trung tại khu vực lân cận của Hôtel de Ville để tham gia các lễ hội kỷ niệm thành lập một chế độ mới, lúc này đã chính thức lấy tên là Công xã Paris. Mặc dù nó tồn tại không quá bảy mươi hai ngày, nhưng đây là sự kiện chính trị quan trọng nhất trong lịch sử của phong trào công nhân thế kỷ 19, thắp sáng lại hy vọng cho những người dân kiệt quệ vì phải sống những tháng ngày gian khổ. Các ủy ban và các nhóm mọc lên ở các khu dân cư để hỗ trợ cho Công Xã, và ở mọi ngóc ngách của thành phố đều tổ chức các sáng kiến thể hiện tinh đoàn kết và lập kế hoạch xây dựng một thế giới mới. Montmartre đã được rửa tội cho “thành trì của tự do”.

Một trong những ý kiến phổ biến nhất là mong muốn được chia sẻ những điều tốt đẹp với những người khác. Các chiến binh như Louise Michel đã nêu gương cho tinh thần tự hạ thấp bản thân; Victor Hugo đã viết về cô ấy rằng cô ấy “đã làm những gì mà những linh hồn hoang dã vĩ đại đã làm. […] Cô ấy tôn vinh những kẻ bị giẫm đạp và áp bức. ” Nhưng thoạt đầu, không phải do sự thúc đẩy của một nhà lãnh đạo hay một số nhân vật có uy quyền đã mang lại sức sống cho Công xã; mà dấu ấn lớn nhất của nó chính là chiều kích tập thể rõ ràng của những người dân.

Sự chuyển đổi của quyền lực chính trị
Hai trong số các sắc lệnh khẩn cấp đầu tiên để ngăn chặn tình trạng nghèo đói khắp mọi nơi đó chính là bãi bỏ việc trả tiền thuê nhà (người ta nói rằng “tài sản nên được chia sẻ công bằng trong sự hy sinh”) và việc bán các mặt hàng có giá trị dưới 20 franc trong các tiệm cầm đồ. Chín ủy ban cộng đồng cũng được cho là sẽ thay thế đứng đầu các bộ phận cơ quan về chiến tranh, tài chính, an ninh, giáo dục, sinh hoạt, lao động và thương mại, quan hệ đối ngoại và dịch vụ công. Một lúc sau khi đưa ra các sắc lệnh, đã có một đại biểu được chỉ định đứng đầu mỗi bộ phận này.

Phụ nữ và nam giới đến với nhau một cách tự nguyện để theo đuổi một dự án chung là giải phóng. Chính phủ tự thân lúc này không được xem là một điều không tưởng. Và tự giải phóng được coi là nhiệm vụ thiết yếu.

Vào ngày 19 tháng 4, ba ngày sau cuộc bầu cử tiếp theo đã được tổ chức để lấp đầy 31 ghế gần như bị bỏ trống, ngay lập tức, Công xã đã thông qua một Tuyên bố cho Nhân dân Pháp có nội dung là “đảm bảo tuyệt đối về quyền tự do cá nhân, tự do lương tâm và tự do lao động”. Là “sự can thiệp thường xuyên của công dân vào các công việc chung.” Xung đột giữa Paris và Versailles, nó khẳng định, “không thể kết thúc bằng những thỏa hiệp ảo tưởng”; người dân có quyền và “nghĩa vụ chiến đấu và chiến thắng!”

Trong văn bản này là một sự tổng hợp hơi mơ hồ để tránh căng thẳng giữa các khuynh hướng chính trị khác nhau, tuy nhiên quan trọng hơn văn bản này là những hành động cụ thể mà qua đó các thành viên trong Công Xã đã đấu tranh cho một sự chuyển đổi hoàn toàn về quyền lực chính trị. Một loạt các cải cách không chỉ đề cập đến các phương thức mà còn đề cập đến bản chất của quản lý chính trị.

Công Xã quy định việc triệu tập các đại diện dân cử và kiểm soát hành động của họ bằng các biện pháp ràng buộc do Công Xã đề ra (mặc dù điều này không đủ để giải quyết vấn đề phức tạp về đại diện chính trị). Các cơ quan thẩm quyền và các cơ quan công quyền khác, cũng chịu sự kiểm soát hệt như vậy và có thể bị thu hồi các quyền quyết định, các cơ quan không được chỉ định một cách tùy tiện như trước đây, mà chỉ được phép ra quyết định sau một cuộc tranh cử hoặc một cuộc bầu cử mở.

Mục đích rõ ràng nhất cho điều này đó chính là ngăn không cho công chúng trở thành lãnh địa của các chính trị gia có sức ảnh hưởng lớn. Các quyết định chính sách không được giao cho một nhóm nhỏ các nhà chức năng, mà phải được thực hiện bởi người dân. Quân đội và lực lượng cảnh sát sẽ không còn là những thể chế tách rời khỏi cơ chế của xã hội. Sự tách biệt giữa nhà nước và nhà thờ cũng là một sự khác biệt.

Nhưng tầm nhìn về sự thay đổi chính trị còn sâu sắc hơn. Cần phải chuyển giao quyền lực vào tay nhân dân để giảm mạnh tình trạng quan liêu. Lĩnh vực xã hội nên được ưu tiên hơn lĩnh vực chính trị – như Henri de Saint-Simon đã duy trì – để chính trị không còn là một chức năng chuyên biệt nữa mà trở nên tích hợp dần vào hoạt động của xã hội dân sự. Do đó, cơ quan xã hội sẽ lấy lại các chức năng đã được chuyển giao cho nhà nước.

Để lật đổ hệ thống thống trị giai cấp hiện tại vẫn là không đủ; nhất quyết phải có một sự kết thúc cho các quy tắc giai cấp như vậy. Tất cả những điều này gộp lại sẽ hoàn thành một viễn cảnh của Công Xã về một nước cộng hòa như một liên minh của các hiệp hội tự do, mang tính dân chủ thực sự để thúc đẩy sự giải phóng của tất cả các thành phần giai cấp của nó. Nó sẽ được thêm vào thành chính phủ tự trị của các nhà sản xuất.

Ưu tiên cải cách xã hội
Công Xã cho rằng cải cách xã hội thậm chí còn quan trọng hơn thay đổi chính trị. Đó là lý do cho sự tồn tại của Công Xã, là thước đo của sự trung thành với các nguyên tắc sáng lập của mình và là yếu tố quan trọng phân biệt nó với các cuộc cách mạng trước đó vào năm 1789 và 1848. Công xã đã thông qua nhiều biện pháp với hàm ý giai cấp rõ ràng.

Thời hạn trả nợ đối với những ai vay mượn được hoãn lại ba năm mà không phải trả thêm bất kỳ khoản lãi suất nào. Các cuộc sơ tán vì dân không trả tiền thuê nhà đã bị bãi bỏ, và một nghị định cho phép trưng dụng chỗ ở trống cho những người không có mái che trên đầu. Công Xã đã lên kế hoạch rút ngắn ngày làm việc (từ mười giờ ban đầu xuống còn tám giờ dự kiến cho tương lai), những việc tồi tệ về áp dụng các khoản tiền phạt cố định đối với người lao động giản đơn là biện pháp cắt giảm lương đã bị cấm bởi các biện pháp trừng phạt đối với người chủ và mức lương tối thiểu cho mỗi vùng đã được Công Xã thiết lập ở một mức độ đáng nể.

Tăng thêm nhiều nguồn cung cấp thực phẩm và hạ giá thành sản phẩm. Làm việc ban đêm tại các tiệm bánh mì đã bị cấm, và một số cửa hàng thịt ở thành phố đã được mở ra nhiều hơn. Công tác xã hội dưới nhiều hình thức khác nhau đã được mở rộng cho các bộ phận dân cư yếu thế hơn – ví dụ, ngân hàng lương thực cho phụ nữ và trẻ em bị bỏ rơi – và các cuộc thảo luận đã được tổ chức về cách chấm dứt sự phân biệt đối xử giữa trẻ em hợp pháp và trẻ em ngoài giá thú.

Tất cả các thành viên trong Công Xã đều chân thành tin tưởng rằng giáo dục là một yếu tố cần thiết cho sự giải phóng cá nhân và bất kỳ thay đổi xã hội và chính trị nghiêm trọng nào. Việc đi học trở nên miễn phí và bắt buộc đối với cả trẻ em gái và trẻ em trai, việc giảng dạy lấy cảm hứng từ tôn giáo đã nhường chỗ cho việc giảng dạy thế tục theo đường lối hợp lý, khoa học. Các khoản tiền khác đã được gửi đặc biệt và các trang báo chí đã đưa ra nhiều lý lẽ thuyết phục cho việc đầu tư vào giáo dục nữ giới. Để trở thành một “dịch vụ công” thực sự, giáo dục phải tạo cơ hội bình đẳng cho “trẻ em ở cả hai giới”.

Hơn nữa, “sự phân biệt trên lý do chủng tộc, quốc tịch, tôn giáo hoặc vị trí xã hội” nên bị bãi bỏ. Những sáng kiến ​​thực tế ban đầu đi kèm với những tiến bộ như vậy đã được đề cập trong mặt lý thuyết, và ở nhiều quận, hàng ngàn trẻ em thuộc tầng lớp lao động lần đầu tiên bước chân vào những ngôi trường cao sang và được nhận tài liệu học trong lớp miễn phí.

Công Xã cũng áp dụng các biện pháp mang tính chất xã hội chủ nghĩa. Nó quy định rằng các xưởng bị bỏ hoang do những người sử dụng lao động đã bỏ trốn khỏi thành phố, phải đảm bảo bồi thường cho người lao động khi họ trở về, và phải được giao cho các hiệp hội hợp tác của người lao động. Các nhà hát và bảo tàng – mở cửa miễn phí cho tất cả mọi người – được tập hợp lại và đặt dưới sự quản lý của Liên đoàn Nghệ sĩ, do họa sĩ và các chiến binh không ngơi nghỉ như Gustave Courbet chủ trì. Khoảng ba trăm nhà điêu khắc, kiến trúc sư, nhà in thạch bản và họa sĩ (trong số đó có Édouard Manet) đã tham gia vào cơ quan này – một ví dụ được nêu lên trong việc thành lập “Liên đoàn nghệ sĩ” tập hợp các diễn viên và người từ thế giới nghệ thuật.

Trong một thành phố vẫn còn quay cuồng vì ảnh hưởng của Chiến tranh Pháp-Phổ, tất cả các hành động và điều khoản này đã được đưa ra trong khoản thời gian chỉ năm mươi bốn ngày. Công xã chỉ có thể thực hiện công việc của mình trong khoảng thời gian từ ngày 29 tháng 3 đến ngày 21 tháng 5, giữa cuộc kháng chiến anh dũng chống lại các cuộc tấn công của Versaillais cũng đòi hỏi sự tiêu tốn lớn về nhân lực và tài chính. Vì Công Xã đã không đặt ra những biện pháp cưỡng chế nhất định, nên nhiều nghị định của Công Xã không được áp dụng thống nhất trên địa bàn rộng lớn của thành phố. Tuy nhiên, họ đã thể hiện một nỗ lực đáng kể để định hình lại xã hội và chỉ ra con đường để có thể thay đổi nó.

Cuộc đấu tranh tập thể và cuộc đấu tranh của phụ nữ
Công xã đã thể hiện được rất nhiều thứ so với các hành động đã được hội đồng lập pháp của nó thông qua. Nó thậm chí còn tham vọng vẽ lại không gian đô thị. Tham vọng đó đã được thể hiện qua quyết định phá bỏ Cột Vendôme, được coi là một tượng đài cho sự man rợ và một biểu tượng đáng trách của chiến tranh, và tục hóa một số nơi thờ cúng bằng cách giao chúng cho cộng đồng sử dụng.

Chính nhờ sự tham gia đông đảo của quần chúng và tinh thần tương thân tương ái mà Công Xã vẫn tồn tại được lâu như vậy. Các câu lạc bộ cách mạng mọc lên ở hầu hết các quận đóng một vai trò đáng chú ý. Có ít nhất hai mươi tám người trong số họ, đại diện cho một trong những ví dụ hùng hồn nhất về việc huy động tự phát.

Những câu lạc bộ này được mở cửa vào mỗi buổi tối, họ tạo cơ hội cho người dân gặp gỡ sau giờ làm việc để tự do thảo luận về tình hình chính trị và xã hội, để kiểm tra những gì mà các đại diện được bầu của họ đã đạt được, và đề xuất những cách thay thế để giải quyết các vấn đề hàng ngày. Họ là những hiệp hội , ủng hộ việc hình thành và thể hiện chủ quyền phổ biến cũng như tạo ra không gian chân chính của tình chị em và tình anh em, nơi mọi người có thể hít thở bầu không khí say sưa và tự quyết định cũng như tự kiểm soát được số phận của chính mình.

Quỹ đạo giải phóng này không có chỗ cho sự phân biệt đối xử giữa các quốc gia. Quyền công dân của Công Xã được mở rộng và trao cho cho tất cả những ai nỗ lực vì sự phát triển của nó, và người nước ngoài được hưởng các quyền xã hội như người Pháp. Nguyên tắc bình đẳng được thể hiện rõ qua vai trò nổi bật của ba nghìn người nước ngoài đang hoạt động trong Công xã. Leó Frankel, một thành viên Hungary của Hiệp hội những người Đàn ông Quốc tế, không chỉ được bầu vào hội đồng của Công Xã mà còn giữ chức “bộ trưởng” lao động – một trong những vị trí quan trọng của Công Xã. Tương tự, người Ba Lan Jarosław Dąbrowski và Walery Wróblewski là những vị tướng xuất sắc đứng đầu Lực lượng Vệ binh Quốc gia.

Mặc dù những người phụ nữ vẫn không có quyền bầu cử hoặc ngồi trong Hội đồng Công Xã, nhưng đã đóng một vai trò thiết yếu trong việc phản biện trật tự xã hội. Trong nhiều trường hợp, họ đã vi phạm các chuẩn mực của xã hội tư sản và khẳng định một bản sắc mới đối lập với các giá trị của gia đình phụ hệ, vượt ra ngoài quyền riêng tư trong gia đình để tham gia vào các lĩnh vực công cộng.

Liên minh Bảo Vệ Phụ Nữ Paris và Liên Minh Chăm sóc Người Bị Thương, trở nên vững chắc là nhờ rất nhiều vào hoạt động không mệt mỏi của thành viên Quốc tế thứ nhất như Elisabeth Dmitrieff, bà đã tham gia tập trung vào việc xác định các trận chiến xã hội và đề ra chiến lược. Liên Minh Phụ nữ đã đạt được việc đóng cửa các nhà thổ được cấp phép, giành quyền bình đẳng cho giáo viên nữ và nam, đặt ra khẩu hiệu “trả công bình đẳng cho công việc như nhau”, yêu cầu quyền bình đẳng trong hôn nhân và sự công nhận của các công đoàn tự do, và thúc đẩy tạo lập các phòng làm việc riêng cho nữ trong liên đoàn lao động.

Khi tình hình quân sự trở nên tồi tệ vào giữa tháng 5, với Versaillais ở cổng Paris, những người phụ nữ đã cầm vũ khí và thành lập một tiểu đoàn của riêng họ. Nhiều người đã quyết tâm hy sinh đến hơi thở cuối cùng của mình để chống lại các chướng ngại vật đối với Công Xã. Những thứ tư sản tuyên truyền đã khiến họ phải hứng chịu những cuộc tấn công ác độc nhất, chúng đã gọi họ là những kẻ phá bĩnh và cáo buộc họ đã khiến thành phố bốc cháy trong các trận chiến trên đường phố.

Tập trung hay phân quyền?
Nền dân chủ thực sự mà các Công Xã tìm cách thiết lập là một dự án đầy tham vọng và khó khăn. Chủ quyền phổ biến đòi hỏi sự tham gia của số lượng lớn nhất có thể của công dân. Từ cuối tháng Ba trở đi, Paris chứng kiến sự mọc lên như nấm của các ủy ban trung ương, các tiểu ban địa phương, các câu lạc bộ cách mạng và tiểu đoàn binh lính, vây quanh tổ chức Hội đồng Công Xã và Ủy ban Vệ binh Quốc gia vốn đã phức tạp.

Sau này các cơ quan đã giữ quyền kiểm soát quân sự,và thường hoạt động như một lực lượng thực sự chống lại hội đồng. Mặc dù sự tham gia trực tiếp của người dân là một bảo đảm quan trọng cho nền dân chủ, nhưng việc nhiều cơ quan có thẩm quyền cùng tham gia đã khiến quá trình ra quyết định trở nên đặc biệt khó khăn và có nghĩa là việc thực hiện các nghị định là một việc khó khăn.

Mối quan hệ giữa cơ quan trung ương và các cơ quan địa phương có vấn đề đã dẫn đến một số tình huống hỗn loạn, có lúc tê liệt. Sự cân bằng mong manh bị phá vỡ hoàn toàn khi phải đối mặt với tình trạng chiến tranh khẩn cấp, tình trạng vô kỷ luật trong Vệ binh Quốc gia và sự quản lý kém hiệu quả ngày càng tăng của chính phủ. Đối mặt với hoàn cảnh này, Jules Miot đề xuất giải pháp đó là thành lập một Ủy ban An toàn Công cộng gồm 5 người, theo mô hình độc tài của Maximilien Robespierre vào năm 1793.

Và giải pháp này đã được thông qua vào ngày 1 tháng 5, với đa số từ bốn mươi lăm đến hai mươi ba người. Đó được chứng minh là một sai lầm nghiêm trọng, đánh dấu cho sự kết thúc cho một cuộc thử nghiệm chính trị mới lạ và chia cắt Công Xã thành hai khối đối lập.

Nhóm đầu tiên trong số này được tạo thành từ những người theo phái tân Jacobins và những người theo chủ nghĩa Blanquists, nghiêng về sự tập trung quyền lực và cuối cùng họ xem lĩnh vực chính trị phải chiếm ưu thế hơn so với khía cạnh xã hội. Nhóm thứ hai, bao gồm đa số thành viên của Hiệp hội những người Đàn ông Quốc tế, xem lĩnh vực xã hội quan trọng hơn lĩnh vực chính trị. Họ nghĩ rằng sự phân chia quyền lực là cần thiết và nhấn mạnh rằng nước cộng hòa không bao giờ được đặt vấn đề về quyền tự do chính trị.

Eugène Varlin của Hiệp hội những người Đàn ông Quốc tế đã làm việc không mệt mỏi để điều phối ủy ban của mình và đã bác bỏ mạnh mẽ sự trôi dạt độc đoán và không tham gia vào các cuộc bầu cử của Ủy ban An toàn Công cộng. Theo quan điểm của nó, việc tập trung quyền lực vào tay một số cá nhân sẽ hoàn toàn mâu thuẫn với các tiên đề thành lập của Công Xã, vì các đại diện được bầu của nó không có chủ quyền, không được tập trung quyền lực, mà những chủ quyèn này đều phải thuộc về nhân dân. –

Vào ngày 21 tháng 5, nhóm thiểu số xem xét lại tình hình và đã tham gia vào phiên họp của Hội đồng Công Xã. Họ đã nỗ lực để đạt được sự thống nhất trong hàng ngũ của họ. Tuy nhiên, kẻ địch đã tiến đến cổng thành và mọi thứ đã quá trễ.

Công xã là từ đồng nghĩa của cách mạng
Công xã Paris đã bị quân đội của Versailles nghiền nát một cách tàn bạo. Trong tuần lễ đổ máu từ ngày 21 đến ngày 28 tháng 5, tổng cộng từ 17 nghìn đến 25 nghìn công dân đã bị tàn sát. Các cuộc chiến cuối cùng diễn ra dọc theo các bức tường của Nghĩa trang Père Lachaise. Một thanh niên Arthur Rimbaud đã mô tả thủ đô của Pháp là “một thành phố thê lương, gần như đã chết”. Đó là vụ thảm sát đẫm máu nhất trong lịch sử nước Pháp.

Chỉ có sáu nghìn người trốn được sống lưu vong ở Anh, Bỉ và Thụy Sĩ. Số tù nhân bị bắt là 43.522 người. Sau các phiên xét xử của tòa án quân sự, một trăm người trong số này đã nhận bản án tử hình, và 13.500 người khác bị đưa vào tù hoặc lao động cưỡng bức, hoặc bị trục xuất đến các vùng xa xôi như New Caledonia. Một số người đến đó đã gắn bó và chia sẻ số phận của mình cùng các nhà lãnh đạo Algeria trong cuộc nổi dậy chống thực dân Mokrani đã nổ ra cùng lúc với Công xã và cũng bị quân Pháp dìm trong máu.

Công xã thể hiện ý tưởng về sự thay đổi chính trị – xã hội và ứng dụng thực tế của nó. Nó đồng nghĩa với chính khái niệm cách mạng, với kinh nghiệm bản thể học của giai cấp công nhân.

Bóng ma Công Xã đã khiến cho việc đàn áp chống chủ nghĩa xã hội trên toàn Châu Âu trở nên mạnh thêm. Trước tình trạng bạo lực chưa từng có của nhà nước Thiers, báo chí bảo thủ và báo chí tự do đã cáo buộc Cộng sản về những tội ác tồi tệ nhất, và chúng đã bày tỏ sự nhẹ nhõm khi khôi phục lại “trật tự tự nhiên” cũng như tính hợp pháp tư sản, và hài lòng với chiến thắng của “nền văn minh” quá vô chính phủ.

Những kẻ đã dám vi phạm quyền hành và tấn công các đặc quyền của giai cấp thống trị sẽ bị trừng phạt để làm gương. Những người phụ nữ một lần nữa bị đối xử như những sinh vật thấp kém, và những người lao động lại bị đẩy lùi vào những vị trí mà họ cho là phù hợp hơn bởi những bàn tay bẩn thỉu, nhẫn tâm của những người chủ.

Chưa hết, cuộc nổi dậy ở Paris đã tiếp thêm sức mạnh cho các cuộc đấu tranh của công nhân và đẩy họ đi theo những hướng cấp tiến hơn. Vào một sáng mai của những ngày bại trận, Eugène Pottier đã viết những điều được trở thành bài ca nổi tiếng nhất của phong trào công nhân: “Hãy để chúng ta nhóm lại với nhau và ngày mai / Quốc tế ca / ​​Sẽ là loài người!”

Công Xã Paris đã chỉ ra rằng mục đích phải là xây dựng một xã hội hoàn toàn khác với chủ nghĩa tư bản. Kể từ đó, ngay cả khi “thời của anh đào” [le temps des cerises] (trích tiêu đề câu thơ nổi tiếng của người cộng sự Jean-Baptiste Clément), không bao giờ trở lại với các nhân vật chính của nó, thì Công xã thể hiện ý tưởng về sự thay đổi chính trị-xã hội và ứng dụng thực tế. Nó đồng nghĩa với chính khái niệm cách mạng, với kinh nghiệm bản thể luận của giai cấp công nhân. Trong Nội chiến ở Pháp, Karl Marx tuyên bố rằng “đội tiên phong của giai cấp vô sản hiện đại” này đã thành công trong việc “gắn bó công nhân trên thế giới với nước Pháp”.

Công xã Pa-ri đã làm thay đổi ý thức của người lao động và nhận thức tập thể của họ. Ở khoảng cách một trăm năm mươi năm, lá cờ đỏ của nó vẫn tiếp tục tung bay và để nhắc nhở chúng ta rằng luôn có thể có một giải pháp thay thế. Vive la Commune!

 

Dịch sang tiếng Việt bởi Sally Mju

Categories
Journalism

Els nous perfils de Marx després de les MEGA²

Des de ja fa més d’una dècada, prestigiosos diaris i revistes d’àmplia difusió han descrit Marx com un teòric clarivident l’actualitat del qual no deixa de confirmarse. Molts autors progressistes sostenen que les seves idees continuen sent indispensables per a tothom qui creu que és necessari construir una alternativa al capitalisme. A tot arreu és motiu de cursos universitaris i conferències internacionals. Els seus escrits, reimpresos o en noves edicions, tornen a omplir els prestatges de les llibreries, i l’estudi sobre la seva obra, després de vint anys o més d’abandó, guanya força. Els anys 2017 i 2018 es va intensificar aquest «retorn de Marx»[1] gràcies a les múltiples iniciatives que s’han dut a terme a tot el món al voltant del 150è aniversari de la publicació d’El capital i del bicentenari del seu naixement.

Les idees de Marx han canviat el món. I malgrat com s’han afirmat les seves teories, esdevingudes ideologies dominants i doctrines d’estat per a una part considerable de la humanitat al segle xx, continua sense haver-hi una edició completa de les seves obres i manuscrits. La principal raó d’això cal trobar-la en el caràcter incomplet de l’obra de Marx; són considerablement menys els treballs que va publicar que els projectes que van quedar a mig fer, per no esmentar l’enorme Nachlass de notes associades a les seves recerques inacabades. Marx ens llega, doncs, molts més manuscrits que els que va enviar a impremta. La incompletesa formava part inseparable de la seva vida: l’extrema pobresa que de vegades l’afligia i la seva salut malaltissa s’afegien a les preocupacions quotidianes; el seu mètode rigorós i la seva despietada autocrítica feien encara més difícils molts dels seus projectes. A més a més, la seva passió pel coneixement no va afluixar al llarg del temps i sempre el conduïa a encetar nous estudis. Fos com fos, la seva tasca incessant tindria unes conseqüències extraordinàries per al futur.

Particularment valuosa per a una revaluació de les fites assolides per Marx va ser la represa de la publicació el 1998 de la Marx-Engels-Gesamtausgabe (MEGA²), l’edició historicocrítica de les obres completes de Marx i Friedrich Engels. Han aparegut 28 volums més (entre 1975 i 1989 se’n van publicar quaranta)[2] i n’hi ha més en preparació. La MEGA² està organitzada en quatre seccions: (1) totes les obres, articles i esborranys escrits per Marx i Engels (amb l’excepció d’El capital); (2) El capital i tots els materials preparatoris; (3) la correspondència, consistent en 4.000 cartes de Marx i Engels i 10.000 que altra gent els va escriure a ells, moltes de les quals publicades per primer cop en la MEGA², i (4) els extractes, les anotacions i les notes al marge. Aquesta quarta secció testimonia la tasca veritablement enciclopèdica de Marx: des de l’època universitària tenia el costum de recopilar fragments dels llibres que llegia,[3] sovint intercalant-hi les reflexions que li suggerien. El llegat literari de Marx consta d’uns dos-cents quaderns. Són essencials per entendre la gènesi de la seva teoria i d’aquells elements que no va poder desenvolupar com li hauria agradat. Els passatges supervivents, que cobreixen el llarg període que va de 1838 a 1882, estan escrits en vuit llengües (alemany, grec antic, llatí, francès, anglès, italià, espanyol i rus) i fan referència a disciplines molt variades. Pertanyen a obres de filosofia, història de l’art, religió, política, dret, literatura, història, economia política, relacions internacionals, tecnologia, matemàtica, fisiologia, geologia, mineralogia, agronomia, antropologia, física i química, provinents no només de llibres i articles de diaris i revistes, sinó també d’actes parlamentàries i d’estadístiques i informes governamentals. Aquest immens magatzem de coneixement, la majoria publicat els darrers anys o esperant a ser imprès, era el lloc en construcció de la teoria crítica de Marx, i gràcies a la MEGA² per primer cop podem consultar-los.[4]

Aquests materials de valor inestimable —molts d’ells només accessibles en alemany i, per tant, limitats a petits cercles d’investigadors— ens mostren un autor molt diferent del que ens han presentat durant molt de temps nombrosos crítics o autoproclamats deixebles. De fet, els nous textos incorporats a la MEGA² permeten afirmar que d’entre els clàssics del pensament polític, econòmic i filosòfic, Marx és l’autor el perfil del qual més ha canviat en les primeres dècades del segle xxi. El nou escenari polític després de la implosió de la Unió Soviètica també ha contribuït a aquesta percepció renovada. Perquè la fi del marxisme-leninisme ha alliberat d’una vegada per totes l’obra de Marx dels grillons d’una ideologia a anys llum de la seva concepció de la societat.

Investigacions recents refuten les aproximacions que redueixen la concepció de Marx de la societat comunista al desenvolupament superior de les forces productives. Han fet palès, per exemple, la importància que concedia a la qüestió ecològica: en repetides ocasions Marx va denunciar el fet que l’expansió del mode de producció capitalista no només acreixia la despossessió del treball obrer sinó també el saqueig dels recursos naturals. Marx va aprofundir en moltes altres qüestions que, tot i haver estat subestimades o inclús ignorades pels estudiosos de la seva obra, adquireixen una importància cabdal per a l’agenda política dels nostres temps. Entre elles trobem la llibertat individual en les esferes econòmica i política, l’alliberament de gènere, la crítica del nacionalisme, el potencial emancipador de la tecnologia i les formes de propietat col·lectiva no controlades per l’Estat. Així doncs, trenta anys després de la caiguda del mur de Berlín podem llegir per primer cop un Marx molt diferent del teòric dogmàtic, economicista i eurocèntric que durant tant de temps van fer desfilar.

Nous descobriments sobre la gènesi de la concepció materialista de la història
El febrer de 1845, després de quinze mesos intensius a París crucials per a la seva formació política, Marx es va veure forçat a traslladar-se a Brussel·les, on se li va permetre de residir amb la condició de «no publicar res sobre l’actualitat política».[5] Durant els tres anys que va passar a la capital belga, va seguir profitosament els seus estudis d’economia política i va concebre la idea d’escriure, junt amb Engels, Joseph Weydemeyer i Moses Hess, una «crítica de la filosofia alemanya moderna tal com la desenvolupen els seus representants Ludwig Feuerbach, Bruno Bauer i Max Stirner, i del socialisme alemany segons l’exposen els seus diversos profetes».[6] El text resultant, publicat pòstumament amb el títol de La ideologia alemanya, tenia un doble objectiu: d’una banda, combatre les últimes formes de neohegelianisme a Alemanya i, de l’altra, tal com va escriure a l’editor Carl Wilhelm Julius Leske, «preparar el públic per al punt de vista adoptat en la meva Economia, que és diametralment oposat al de l’acadèmia alemanya passada i present».[7] Aquest manuscrit, en què va treballar fins al juny de 1846, va quedar incomplet, però el va ajudar a elaborar més clarament que fins llavors —tot i que no de forma definitiva— el que Engels va definir per al gran públic quaranta anys més tard com «la concepció materialista de la història».[8]

La primera edició de La ideologia alemanya, publicada el 1932, així com totes les versions posteriors que només incorporaven petites modificacions, va ser enviada als impressors com si es tractés d’un llibre acabat. Els editors d’aquest manuscrit, en realitat inacabat, van crear la falsa impressió que La ideologia alemanya incloïa un capítol d’obertura essencial sobre Feuerbach en què Marx i Engels establien exhaustivament les lleis del «materialisme històric» (un terme que Marx no va utilitzar mai). Segons Althusser, és allà on concebien «un inequívoc trencament epistemològic» amb els seus escrits anteriors.[9] La ideologia alemanya esdevindrà, aviat, un dels textos filosòfics més importants del segle xx. Per a Henri Lefebvre establia les «tesis fonamentals del materialisme històric».[10] Maximilien Rubel sostenia que aquest «manuscrit presentava la formulació més elaborada de la perspectiva crítica i materialista de la història».[11] David McLellan també era directe quan mantenia que «contenia l’exposició més detallada de Marx sobre la seva concepció materialista de la història».[12]

Gràcies al volum I/5 de la MEGA², «Karl Marx – Friedrich Engels, Deutsche Ideologie. Manuskripte und Drucke (1845-1847)»,[13] moltes d’aquestes afirmacions ara poden ser redimensionades i La ideologia alemanya restituïda a la seva incompletesa original. Aquesta edició (que comprèn 17 manuscrits amb un total de 700 pàgines, més un aparell crític de 1.200 pàgines que inclou variacions i correccions d’autor i indica la paternitat de cada secció) restableix d’una vegada per totes el caràcter fragmentari del text.[14] La fal·làcia del segle xx del «comunisme científic» i totes les instrumentalitzacions de La ideologia alemanya fan pensar en una frase que es troba al text mateix. Perquè la contundent crítica de la filosofia alemanya que Marx va fer en vida és també una esmolada advertència davant futures vel·leïtats exegètiques: «No només en les respostes, també en les preguntes hi havia mistificació».[15]

Quin Marx emergeix de la nova edició historicocrítica de les seves obres? En certa manera, difereix del pensador que molts seguidors i opositors han presentat al llarg dels anys

Durant el mateix període, el jove revolucionari nascut a Trèveris va continuar els estudis que havia encetat a París. El juliol i l’agost de 1845 els va passar a Manchester furgant en la vasta literatura econòmica en llengua anglesa i compilant nou llibres d’extractes (els anomenats Quaderns de Manchester), la majoria de manuals d’economia política i de llibres d’història econòmica. El volum IV/4 de la MEGA², publicat el 1988, conté els cinc primers d’aquests quaderns junt amb tres llibres de notes d’Engels del mateix període a Manchester.[16] El volum IV/5, «Karl Marx – Friedrich Engels, Exzerpte und Notizen Juli 1845 bis Dezember 1850»,[17] completa aquesta sèrie de textos i en fa accessibles per als investigadors les parts inèdites. Això inclou els quaderns 6, 7, 8 i 9, que contenen els extractes recollits per Marx de setze obres d’economia política. La part més consistent d’aquest grup de textos la compon Labour’s Wrongs and Labour’s Remedy (1839), de John Francis Bray, i quatre textos de Robert Owen, especialment el seu Book of the New Moral World (1840-1844), tots ells evidència del gran interès que Marx tenia en aquell temps en el socialisme anglès i del profund respecte que professava per Owen, un autor que massa marxistes han descartat precipitadament per «utòpic». El volum s’acaba amb unes vint pàgines escrites per Marx entre 1846 i 1850 i algunes notes d’estudi d’Engels del mateix període.

Aquests estudis de teoria socialista i economia política no eren un impediment per al compromís polític habitual de Marx i Engels. Les més de vuit-centes pàgines del volum I/7, «Karl Marx – Friedrich Engels, Werke, Artikel, Entwürfe. Februar bis Oktober 1848»,[18] publicat recentment, ens permeten d’apreciar-ne la dimensió el 1848, un dels anys d’activitat política i periodística més apassionada en la vida dels autors del Manifest comunista. Després que un moviment revolucionari d’abast i intensitat sense precedents fes trontollar l’ordre polític i social de l’Europa continental, els diversos governs van prendre tota mena de mesures per posar fi a les insurreccions. El mateix Marx en va patir les conseqüències i al març va ser expulsat de Bèlgica. Tanmateix, s’acabava de proclamar una república a França i Ferdinand Flocon, ministre del govern provisional, va convidar Marx a tornar a París: «Benvolgut i valent Marx, […] la tirania et va desterrar, però la França lliure t’obrirà les portes de nou». Naturalment, Marx va deixar de banda els seus estudis d’economia política i es va dedicar a l’activitat periodística en suport a la revolució, mirant de contribuir a traçar un cert rumb polític. Després d’un curt període a París, a l’abril es va traslladar a Renània, i dos mesos després va començar a editar la Nova Gaseta Renana, que s’acabava de fundar a Colònia. Des de les seves columnes va promoure una intensa campanya de suport als insurgents atiant el proletariat envers «la revolució social i republicana».[19]

Gairebé tots els articles de la Nova Gaseta Renana es van publicar anònimament. Un dels mèrits d’aquest volum és haver atribuït correctament l’autoria dels 36 textos a Marx o a Engels, mentre que les compilacions prèvies ens deixaven amb el dubte de qui havia escrit cada una de les peces. D’un total de 275, 125 s’imprimeixen aquí per primera vegada en una edició de les obres de Marx i Engels. En un apèndix s’inclouen també 16 interessants documents amb cròniques d’algunes de les seves intervencions en les trobades de la Lliga dels Comunistes, la fusió de la Societat Democràtica de Colònia i la Unió de Viena. Aquells interessats en l’activitat política i periodística de Marx durant «l’any de la revolució», 1848, trobaran aquí un material abundant i molt valuós per aprofundir-hi.

El capital: la crítica inacabada
El moviment revolucionari que es va aixecar per tot Europa el 1848 va ser derrotat de seguida i el 1849, després de dues ordres d’expulsió de Prússia i França, Marx no va tenir altra opció que creuar el Canal de la Mànega. A Anglaterra romandria com a exiliat i apàtrida per la resta de la seva vida, però la reacció europea no el podria haver confinat en un lloc millor per escriure la seva crítica de l’economia política. En aquella època Londres era el principal centre econòmic i financer del món, el «demiürg del cosmos burgès»[20] i, per tant, l’indret més propici des d’on observar de prop com evolucionava l’economia de la societat capitalista. També va ser corresponsal per al New-York Tribune, el diari amb més tirada dels Estats Units d’Amèrica.

Durant molts anys Marx va esperar l’esclat d’una nova crisi, i quan va arribar el moment, el 1857, es va dedicar amb cor i ànima a analitzar-ne les característiques fonamentals. El volum I/16, «Karl Marx – Friedrich Engels, Artikel Oktober 1857 bis Dezember 1858»,[21] conté 84 articles que va escriure entre la tardor de 1857 i el final de 1858 al New-York Tribune, incloent-hi aquells en què expressava les seves primeres reaccions al pànic financer de 1857. El rotatiu estatunidenc sovint feia editorials sense signar, però la recerca feta per a aquest nou volum de la MEGA² ha fet possible atribuir a Marx dos articles més, així com afegir-ne a l’apèndix quatre que els editors havien modificat substancialment i tres l’origen dels quals roman incert.

Mogut per la necessitat desesperada de millorar la seva situació econòmica, Marx també es va unir al comitè editorial de The New American Cyclopædia i va acceptar contribuir al projecte amb un seguit d’entrades (el volum I/16 conté 39 d’aquestes peces). Per més que dos dòlars per pàgina era un preu molt baix, no deixava de ser un afegit a les seves finances desastroses. A banda, per poder dedicar més temps als seus escrits econòmics, la majoria del treball el va confiar a Engels.

La producció de Marx durant aquest període és molt destacable i diversa. Junt amb el seu compromís periodístic, entre l’agost de 1857 i el maig de 1858 va redactar els famosos vuit quaderns coneguts com els Grundrisse. Però també es va imposar la tasca extenuant de fer un estudi analític de la primera crisi econòmica mundial. El volum IV/14, «Karl Marx, Exzerpte, Zeitungsausschnitte und Notizen zur Weltwirtschaftskrise (Krisenhefte). November 1857 bis Februar 1858»,[22] contribueix decisivament al nostre coneixement d’un dels períodes més fèrtils de la producció teòrica de Marx. En una carta a Engels del desembre de 1857, Marx descriu el seu febril esclat d’activitat:

Estic treballant moltíssim, per regla general fins a les 4 de la matinada. Em dedico a una doble tasca: 1. Redacció dels esbossos [Grundrisse] de l’economia política. (Per al benefici del públic és absolutament imprescindible aprofundir en aquesta qüestió, igual com ho és per a mi, individualment, desfer-me d’aquest malson). 2. La crisi actual. A banda dels articles per al [New-York] Tribune, tot el que faig és mantenir-ne un registre; una tasca, tanmateix, que exigeix una quantitat de temps considerable. Jo crec que cap a la primavera hauríem d’escriure plegats un pamflet sobre la qüestió, com un recordatori per al públic alemany que continuem sent-hi, com sempre i igual que sempre.[23]

Per tant, Marx planejava treballar al mateix temps en els dos projectes: un treball teòric de crítica del mode de producció capitalista i un llibre més estrictament d’actualitat sobre les vicissituds de la crisi en curs. És així com en els anomenats Quaderns de la crisi, a diferència de volums semblants previs, Marx ja no compilava extractes del treball d’altres economistes sinó una gran quantitat de notícies de premsa sobre els principals col·lapses bancaris, sobre les variacions en les cotitzacions borsàries i sobre els canvis en els patrons del comerç, les taxes d’atur i la producció industrial. L’atenció especial que va dedicar a això últim distingeix la seva anàlisi de la de molts altres, que atribuïen la crisi exclusivament a errors en la concessió de crèdits i a un increment dels fenòmens especulatius. Marx va dividir els seus apunts entre tres quaderns separats. El primer i més curt, intitulat «La França de 1857», recollia dades sobre l’estat del comerç francès i sobre les principals mesures preses pel Banc de França. El segon, el «Llibre sobre la crisi de 1857», era gairebé el doble de llarg i tractava principalment de la Gran Bretanya i del mercat monetari. En el tercer quadern, lleugerament més llarg, tractava temes similars: al «Llibre sobre la crisi comercial» Marx anotava dades i notícies sobre les relacions industrials, la producció de matèries primeres i el mercat laboral.

La feina de Marx era tan rigorosa com sempre: copiava de més d’una dotzena de diaris i revistes, en ordre cronològic, les parts més interessants de nombrosos articles i qualsevol altra informació que podia utilitzar per ressenyar el que estava passant. La seva font principal era The Economist —un setmanari del qual extreia gairebé la meitat de les seves notes—, però també consultava freqüentment el Morning Star, el Manchester Guardian i el Times. Tots els extractes estan compilats en llengua anglesa. En aquests quaderns Marx no es limitava a transcriure les principals notícies relatives als Estats Units d’Amèrica i la Gran Bretanya. També seguia els esdeveniments més importants que tenien lloc en altres països europeus (particularment França, Alemanya, Àustria, Itàlia i Espanya) i mantenia un interès molt viu pel que passava a altres indrets del món, especialment l’Índia i la Xina, l’Extrem Orient, Egipte o fins i tot el Brasil i Austràlia.

Així que passaven les setmanes, Marx desistia de la idea de publicar un llibre sobre la crisi i concentrava totes les seves energies en el treball teòric, la crítica de l’economia política, que creia que no s’havia d’endarrerir més. Tanmateix, els Quaderns de la crisi continuen sent molt útils per refutar la idea falsa que es té sobre els seus principals interessos durant aquest període. En una carta a Engels de principis de 1858, Marx escrivia que «pel que fa al mètode» a utilitzar en el seu treball «la Lògica de Hegel li havia estat de gran utilitat» i afegia que mereixia destacar-se el seu «aspecte racional».[24] Basant-se en això, alguns intèrprets de l’obra de Marx han inferit que quan escrivia els Grundrisse devia dedicar un temps considerable a l’estudi de la filosofia hegeliana. Però la publicació del volum IV/14 deixa bastant clar que en aquell moment la seva preocupació principal era l’anàlisi empírica dels esdeveniments lligats a la gran crisi econòmica que durant tant de temps havia predit.

Els esforços infatigables de Marx per completar la seva «crítica de l’economia política» estan també rere els continguts del volum III/12, «Karl Marx – Friedrich Engels, Briefwechsel. Januar 1862 bis September 1864»,[25] que conté la correspondència entre principis de 1862 i el moment de la fundació de l’Associació Internacional dels Treballadors. De les 425 cartes que han sobreviscut, 112 són intercanvis entre Engels i Marx, mentre que 35 les escriuen i 278 les reben de terceres persones (d’aquest grup, 227 es publiquen aquí per primer cop). La inclusió d’aquestes darreres —la diferència més significativa respecte de totes les edicions anteriors— constitueix un veritable tresor ocult per al lector interessat, ja que aporta gran quantitat d’informació nova sobre els esdeveniments i les teories que Marx i Engels van aprendre de les dones i els homes amb què compartien compromís polític.

Com els altres volums de correspondència de la MEGA², també aquest inclou un registre de cartes escrites o rebudes per Marx i Engels de les quals només teníem petites traces. Del total de les 125 publicades, gairebé un quart de totes les que han sobreviscut, 57 són escrites per Marx. En aquests casos, fins i tot el més rigorós dels investigadors no podrà més que especular sobre algunes hipòtesis conjecturals. Entre els punts clau de discussió en la correspondència de Marx des de principis dels anys 1860 hi havia la Guerra Civil Nord-americana, la revolta polonesa contra l’ocupació russa i el naixement del Partit Socialdemòcrata d’Alemanya inspirat en els postulats de Ferdinand Lassalle. Així i tot, un tema cada cop més recurrent era la seva lluita per avançar en l’escriptura d’El capital.

Durant aquest període, Marx va encetar una nova àrea de recerca: les teories de la plusvàlua. En deu quaderns va disseccionar minuciosament l’aproximació dels grans economistes que l’havien precedit, amb la idea principal que «tots comparteixen l’error d’examinar la plusvàlua no com a tal, en la seva forma pura, sinó en la forma particular de guanys i rendes».[26] Mentrestant, la situació econòmica de Marx continuava sent desesperada. Al juny de 1862 deia a Engels: «Cada dia la meva dona diu que desitjaria reposar sota terra amb els nens, fora de perill, i realment no la puc blasmar, perquè les humiliacions, turments i misèries que s’han de suportar en una situació com aquesta són certament indescriptibles». La situació era tan extrema que la Jenny va decidir vendre alguns llibres de la llibreria personal del seu marit, per bé que finalment no trobaria ningú que els volgués comprar. Amb tot, Marx se les arreglava per «treballar de valent» i va escriure una nota de satisfacció a Engels en què li deia: «És estrany dir-ho, però la meva substància grisa funciona millor enmig d’aquesta extrema pobresa del que ho havia fet durant anys».[27] Al setembre, Marx escrivia a Engels que pel nou any potser hauria d’agafar una feina «en una oficina dels ferrocarrils».[28] Al desembre li repetia al seu amic Ludwig Kugelmann que les coses s’havien tornat tan desesperades que «havia decidit fer-se un “home pràctic”». Però finalment no en sortiria res, d’això, i Marx ho relatava amb el seu sarcasme habitual: «Per sort —o potser hauria de dir per desgràcia?— no m’han donat la feina a causa de la meva mala cal·ligrafia».[29]

El que proporciona la MEGA² és, més aviat, la base textual per repensar un Marx diferent: no perquè la lluita de classes desaparegui del seu pensament, sinó radicalment diferent de l’autor que van convertir de forma dogmàtica en la font i origen del «socialisme real» suposadament obsessionat de manera exclusiva en el conflicte de classes.

Juntament amb les dificultats financeres, Marx patia molts problemes de salut. Així i tot, entre l’estiu de 1863 i el desembre de 1865 es va embarcar en l’edició de les diferents parts en què havia decidit subdividir El capital. Finalment va aconseguir redactar el primer esborrany del volum primer; el manuscrit únic del volum tercer, on proporciona l’única descripció completa que va fer del procés de producció capitalista; i una versió inicial del volum segon, en què trobem la primera presentació general del procés de circulació del capital.

El volum II/11 de la MEGA², «Karl Marx, Manuskripte zum zweiten Buch des “Kapitals” 1868 bis 1881»,[30] conté els manuscrits definitius del volum segon d’El capital,que Marx va escriure entre 1868 i 1881. Nou d’aquests deu manuscrits no s’havien publicat abans. A l’octubre de 1867 Marx hi tornava amb el volum segon d’El capital, però la tasca va tornar a interrompre’s per problemes de salut. Uns mesos després, quan va poder reprendre-la, ja havien passat gairebé tres anys des de l’última versió que havia escrit. Els dos primers capítols els va enllestir durant la primavera de 1868, any que l’ocuparia amb un altre grup d’escrits de caràcter preparatori sobre la relació entre la plusvàlua i la taxa de benefici, la llei de la taxa de benefici, i les metamorfosis del capital. La nova versió del capítol tercer la va completar durant els dos anys següents. El volum II/11 es tanca amb un seguit de textos curts que un Marx ja gran va escriure entre el febrer de 1877 i la primavera de 1881.

Els esbossos del volum segon d’El capital, que en absolut tenien caràcter definitiu, presenten una sèrie de problemes teòrics. Engels en publicaria la versió definitiva el 1885 i ara apareix en el volum II/13 de la MEGA², titulat «Karl Marx, Das Kapital. Kritik der politischen Ökonomie. Zweiter Band. Herausgegeben von Friedrich Engels. Hamburg 1885».[31]

Per acabar, el volum II/4.3, «Karl Marx, Ökonomische Manuskripte 1863-1868. Teil 3»,[32] completa la segona secció de la MEGA². Aquest volum, que segueix els volums II/4.1 i II/4.2 en les sèries prèvies,[33] conté quinze textos fins ara inèdits escrits entre la tardor de 1867 i el final de 1868. Set d’aquests textos són esbossos del volum tercer d’El capital de caràcter molt fragmentari que Marx no va aconseguir mai posar al dia de manera que reflectissin el progrés de la seva recerca. Tres altres concerneixen el volum segon, mentre que els cinc restants aborden qüestions relatives a la interdependència entre els volums segon i tercer i inclouen extractes comentats de les obres d’Adam Smith i de Thomas Malthus. Els darrers són especialment estimulants per als economistes interessats en la teoria de la taxa de beneficis de Marx i en les seves idees sobre la teoria dels preus. Diversos estudis filològics relacionats amb la preparació d’aquest volum mostren, també, que el manuscrit original del primer volum d’El capital (del qual el capítol 6, «Resultats del procés immediat de producció» acostumava a considerar-se l’única part supervivent) en realitat data del període 1863-1864 i que Marx el va reutilitzar per a la còpia que va preparar per publicar.[34]

Amb la publicació del volum II/4.3 de la MEGA² s’han fet accessibles tots els textos auxiliars d’El capital, des de la famosa «Introducció», escrita al juliol de 1857 durant una de les crisis més grans de la història del capitalisme, fins als últims fragments escrits durant la primavera de 1881. Parlem de quinze volums i d’un seguit de gruixuts toms que s’afegeixen al text principal i constitueixen un formidable aparell crític. Inclouen tots els manuscrits de finals dels anys 1850 i principis dels 1860, la primera versió d’El capital publicada el 1867 (algunes parts de la qual seran modificades en les edicions subsegüents), la traducció francesa revisada per Marx que va aparèixer entre 1872 i 1875, i tots els canvis que Engels va fer als manuscrits dels volums segon i tercer. Decididament, davant d’això la caixa clàssica amb els tres volums d’El capital sembla ben poca cosa. No és una exageració dir que no ha estat fins ara que hem pogut comprendre plenament quins són els mèrits, els límits i la incompletesa de l’obra magnade Marx.

El treball editorial que Engels va emprendre després de la mort del seu amic per preparar les parts inacabades d’El capital per publicar-les era extremadament complex. Els diversos manuscrits, esborranys i fragments dels volums segon i tercer, escrits entre 1864 i 1881, corresponen a les aproximadament 2.350 pàgines de la MEGA². Engels va aconseguir publicar el volum segon el 1885 i el tercer el 1894. Però cal tenir en compte que aquests dos volums són el resultat de la reconstrucció de textos incomplets, sovint formats per material molt heterogeni. Van ser escrits en diferents èpoques i, per tant, inclouen versions diferents, i de vegades contradictòries, de les idees de Marx.

La Internacional, les recerques de Marx després d’El capital i els últims treballs d’Engels
Immediatament després de la publicació d’El capital, Marx va reprendre l’activitat militant i va adquirir un compromís ferm amb la tasca de l’Associació Internacional dels Treballadors. Aquesta fase de la seva biografia política està documentada al volum I/21, «Karl Marx – Friedrich Engels, Werke, Artikel, Entwürfe. September 1867 bis März 1871»,[35] que conté més de 150 textos del període 1867-1871, així com les actes de 169 reunions del Consell General a Londres (omeses en totes les edicions anteriors de les obres de Marx i Engels)[36] en què Marx va intervenir. Com a tal, proveu de material de recerca per a anys decisius en la vida de la Internacional.

Des del principi, ja el 1864, les idees de Proudhon eren hegemòniques a França, a la Suïssa francòfona i a Bèlgica, i els mutualistes —nom amb què es coneixia els seus seguidors— constituïen l’ala més moderada de la Internacional. Decididament contraris a qualsevol intervenció de l’Estat, s’oposaven a la socialització de la terra i els mitjans de producció, així com a l’ús de la vaga com a arma de lluita. Els textos publicats en aquest volum mostren el paper clau que va jugar Marx en la llarga lluita per reduir la influència de Proudhon en la Internacional. Inclouen documents relatius a la preparació dels congressos de Brussel·les (1868) i Basilea (1869), quan la Internacional va fer el primer pronunciament clar per la socialització dels mitjans de producció per part de les autoritats estatals i per l’abolició de la propietat privada de la terra. Això va significar una important victòria per a Marx i la primera aparició dels principis socialistes en el programa polític d’una gran organització obrera.

Més enllà del programa polític de l’Associació Internacional dels Treballadors, els últims anys de la dècada de 1860 i els primers de la de 1870 van ser socialment molt conflictius. Molts treballadors que participaven en accions de protesta prenien contacte amb la Internacional, la reputació de la qual creixia sense parar, i demanaven suport per a les seves lluites. Aquest període també va veure néixer algunes seccions de treballadors irlandesos a Anglaterra. Marx estava preocupat per la divisió que el nacionalisme violent havia introduït dins les files del proletariat, i en un document que s’ha conegut com la «Comunicació confidencial», afirmava emfàticament que «la burgesia anglesa no només ha[via] explotat la misèria irlandesa per mantenir sotmesa la classe obrera a Anglaterra mitjançant la immigració forçada d’irlandesos pobres»; també s’havia demostrat capaç de dividir els treballadors «en dos camps hostils».[37] Segons deia, «una nació que n’esclavitza d’altres forja les seves pròpies cadenes»,[38] i la lluita de classes no podia eludir una qüestió tan decisiva. Un altre tema central del volum, que Engels tracta amb una atenció particular en els seus escrits per a The Pall Mall Gazette, és l’oposició a la guerra franco-prussiana de 1870-1871.

Encara n’hem d’aprendre molt, de Marx. Avui això és possible estudiant no només allò que va escriure en les seves obres publicades, sinó també els interrogants i els dubtes que contenien els seus manuscrits inacabats.

Marx va treballar a l’Associació Internacional dels Treballadors entre el 1864 i el 1872, i el flamant volum IV/18, «Karl Marx – Friedrich Engels, Exzerpte und Notizen. Februar 1864 bis Oktober 1868, November 1869, März, April, Juni 1870, Dezember 1872»[39] presenta la part fins ara desconeguda dels estudis que va fer durant aquells anys. Es tracta d’unes investigacions que va fer o bé poc abans de la impressió del volum primer d’El capital o bé després de 1867, quan preparava els volums segon i tercer per publicar-los. Aquest volum de la MEGA² consisteix en cinc llibres d’extractes i quatre quaderns amb resums de més de cent obres publicades, informes de debats parlamentaris i articles periodístics. La part més substancial i rellevant teòricament d’aquests materials són les seves recerques sobre agricultura, centrades principalment en la renda del sòl, les ciències naturals, les condicions agràries a diversos països europeus, els Estats Units, Rússia, el Japó i l’Índia i els sistemes de tinença de la terra en les societats precapitalistes.

Marx va llegir amb atenció Chemistry in Its Application to Agriculture and Physiology (1843), un estudi del científic alemany Justus von Liebig que considerava essencial perquè li permetia modificar la seva creença anterior que els descobriments científics de l’agricultura moderna havien de resoldre el problema de la regeneració del sòl. A partir de llavors creixeria el seu interès en allò que actualment anomenem «ecologia», particularment l’erosió del sòl i la desforestació. Entre els altres llibres que van marcar fortament Marx durant aquest període, cal assignar un lloc especial, també, a la Introduction to the Constitutive History of the German Mark, Farm, Village, Town and Public Authority (1854), del teòric polític i historiador del dret Georg Ludwig von Maurer. En una carta a Engels deia que trobava els llibres de Maurer «extremadament significatius», ja que abordaven de manera completament nova «no només l’època primitiva sinó tot el desenvolupament posterior de les ciutats lliures imperials, de la immunitat dels terratinents, de l’autoritat pública i de la lluita entre pagesia lliure i servitud»,[40] Marx també subscrivia la demostració de Maurer que la propietat privada de la terra era pròpia d’un període històric determinat i no es podia considerar un tret natural de la civilització humana. Finalment, Marx va estudiar a fons tres obres alemanyes de Karl Fraas: Climate and the Vegetable World throughout the Ages, a History of Both (1847), A History of Agriculture (1852) i The Nature of Agriculture (1857). El primer el trobava «molt interessant», especialment la part en què demostrava que «el clima i la flora canvien al llarg de la història». A l’autor el descrivia com un «darwinista abans de Marx», algú que admetia que «fins i tot les espècies s’han desenvolupat al llarg de la història». També li cridaven l’atenció les consideracions ecològiques de Fraas i la seva preocupació per com «els conreus —quan tenen un creixement natural i no se’ls controla conscientment (com a burgès, naturalment, no arriba a aquest punt)— deixen deserts al seu pas». Marx detectava en tot això «una tendència socialista inconscient».[41]

Després de la publicació dels anomenats Quaderns sobre l’agricultura, es pot afirmar amb més evidència que abans que l’ecologia hauria jugat un paper molt més important en el pensament de Marx si hagués tingut prou energia per completar els últims dos volums d’El capital.[42] Per descomptat, la crítica ecològica de Marx era essencialment anticapitalista, i per més esperances que diposités en el progrés científic, suposava un qüestionament del mode de producció com un tot.

La magnitud dels estudis de Marx en ciències naturals es fa plenament visible des de la publicació del volum IV/26, «Karl Marx, Exzerpte und Notizen zur Geologie, Mineralogie und Agrikulturchemie. März bis September 1878».[43] A la primavera i l’estiu de 1878, la geologia, la mineralogia i la química agrària eren més centrals en els estudis de Marx que no pas l’economia política. Va compilar fragments de diversos llibres, com ara The Natural History of the Raw Materials of Commerce (1872), de John Yeats, The Book of Nature (1848), del químic Friedrich Schoedler, i Elements of Agricultural Chemistry and Geology (1856), del químic i mineralogista James Johnston. Entre el juny i principis de setembre es barallava amb l’Student’s Manual of Geology (1857)[44] de Joseph Jukes, d’on va extreure la majoria dels fragments, que se centraven principalment en qüestions de metodologia científica, en les etapes de desenvolupament de la geologia com a disciplina i en la seva utilitat per a la producció industrial i agrícola.

Aquestes reflexions van despertar en Marx la necessitat de desenvolupar les seves idees al voltant del benefici, qüestió a la qual s’havia dedicat intensament per última vegada a mitjan anys 1860, quan va escriure l’esborrany de la part sobre «La transformació de la plusvàlua en renda de la terra» del volum tercer d’El capital. Algunes de les compilacions de textos de ciències naturals que havia reunit pretenienil·luminar el material que estava estudiant, però altres extractes, més orientats a qüestions teòriques, estaven més pensats perquè servissin per enllestir el volum tercer. Engels recordaria més tard que Marx «va pentinar […] la prehistòria, l’agronomia, la propietat de la terra a Rússia i els Estats Units, la geologia, etc., en particular per elaborar, en una mesura […] com no ho havia fet prèviament, la secció sobre la renda de la terra al volum tercer d’El capital».[45] Aquests volums de la MEGA² són encara més importants perquè serveixen per desmentir el mite, repetit en algunes biografies i estudis sobre Marx, que després d’El capital ja havia satisfet la seva curiositat intel·lectual i havia abandonat l’estudi i la recerca.[46]

Tres llibres de la MEGA² publicats durant la darrera dècada concerneixen l’últim Engels. El volum I/30, «Friedrich Engels, Werke, Artikel, Entwürfe Mai 1883 bis September 1886»,[47] conté 43 textos que va escriure en els tres anys posteriors a la mort de Marx. Dels 29 més importants, 17 són peces periodístiques que van aparèixer en alguns dels principals diaris de la premsa obrera europea. Tot i que en aquest període estava concentrat principalment en l’edició dels manuscrits incomplets d’El capital de Marx, Engels no va deixar d’intervenir en una sèrie de qüestions polítiques i teòriques candents. També va publicar una obra polèmica que criticava el ressorgiment de l’idealisme en els cercles acadèmics alemanys, Ludwig Feuerbach and the End of Classical German Philosophy (1886). Un grup de 14 textos més, publicats com a apèndix en aquest volum de la MEGA², són algunes de les traduccions pròpies d’Engels i un seguit d’articles signats per altres autors però que havien gaudit de la seva col·laboració.

La MEGA² també ha publicat un nou conjunt de la correspondència d’Engels. El volum III/30, «Friedrich Engels, Briefwechsel Oktober 1889 bis November 1890»,[48] conté 406 cartes supervivents del total de 500 o més que va escriure entre l’octubre de 1889 i el novembre de 1890. A més, la inclusió per primera vegada de cartes d’altres corresponsals permet apreciar més profundament la contribució que Engels va fer al creixement dels partits obrers a Alemanya, França i Gran Bretanya entorn d’una sèrie de qüestions teòriques i organitzatives. Alguns dels temes en qüestió es refereixen al naixement de la Segona Internacional i a molts debats que s’estaven donant en aquesta organització, el congrés fundacional de la qual va tenir lloc el 14 de juliol de 1889.

Per acabar, el volum I/32, «Friedrich Engels, Werke, Artikel, Entwürfe März 1891 bis August 1895»,[49] reuneix els escrits dels últims quatre anys i mig de la vida d’Engels. Hi ha una sèrie d’articles periodístics escrits per a les principals capçaleres socialistes de l’època, incloses Die Neue Zeit, Le Socialiste i Critica Sociale, però també pròlegs i postfacis a diverses reimpressions d’obres de Marx i Engels, transcripcions de discursos, entrevistes i salutacions a congressos del partit, transcripcions de debats, documents que Engels va redactar en col·laboració amb altres persones, a més de diverses traduccions.

Aquests tres volums resultaran, per tant, molt útils per a un estudi més profund de les darreres contribucions teòriques i polítiques d’Engels. Les nombroses publicacions i conferències internacionals programades per al bicentenari del seu naixement (1820-2020) han examinat aquests 12 anys posteriors a la mort de Marx, durant els quals va dedicar les seves energies a la difusió del marxisme.

Un altre Marx?
Quin Marx emergeix de la nova edició historicocrítica de les seves obres? En certa manera, difereix del pensador que molts seguidors i opositors han presentat al llarg dels anys, per no parlar de les estàtues de pedra que hi havia a les places públiques dels règims autoritaris de l’Europa de l’Est, que el mostraven apuntant al futur amb imperiosa certesa. D’altra banda, seria enganyós invocar —com fan aquells que aclamen sobreexcitats un «Marx desconegut» cada vegada que apareix un nou text— que les recents investigacions han capgirat tot el que ja se sabia d’ell. El que proporciona la MEGA² és, més aviat, la base textual per repensar un Marx diferent: no perquè la lluita de classes desaparegui del seu pensament (com desitjarien alguns acadèmics, en una variació de l’antiga cantarella del «Marx economista» contra el «Marx polític» que en va busca presentar-lo com un clàssic sense utilitat actual), sinó radicalment diferent de l’autor que van convertir de forma dogmàtica en la font i origen del «socialisme real» suposadament obsessionat de manera exclusiva en el conflicte de classes.

Dels nous avenços assolits en els estudis marxians se segueix que novament, com en moltes altres ocasions del passat, és possible refinar més i més l’exegesi de l’obra de Marx. Durant massa temps, molts marxistes van posar en primer pla els escrits del jove Marx —principalment els Manuscrits econòmics i filosòfics de 1844 i La ideologia alemanya—, mentre que el Manifest comunista continuava sent el seu text més llegit i citat. En els primers escrits, però, es poden trobar moltes idees que en l’obra posterior són reemplaçades. Durant molt de temps, la dificultat d’accedir a les investigacions de Marx de les dues darreres dècades de la seva vida va dificultar el nostre coneixement de les fites a què havia arribat. Però és sobretot a El capital i als esborranys preliminars, així com a les investigacions dels seus últims anys, on trobem les reflexions més valuoses sobre la crítica de la societat burgesa. Representen les darreres conclusions, encara que no les definitives, a les quals va arribar Marx. Si s’examinen críticament a la llum dels canvis que hi ha hagut al món des de la seva mort, encara poden resultar útils per a la tasca de teoritzar, després dels fracassos del segle xx, un model socioeconòmic alternatiu al capitalisme.

L’edició de la MEGA² desmenteix totes les afirmacions que asseguren que ja s’ha dit i escrit tot sobre Marx. Encara n’hem d’aprendre molt, de Marx. Avui això és possible estudiant no només allò que va escriure en les seves obres publicades, sinó també els interrogants i els dubtes que contenien els seus manuscrits inacabats.

Notes
[1] Entre les principals obres recents que assenyalen aquest retorn de l’interès per Marx figura Marcello Musto, ed., The Marx Revival: Essential Concepts and New Interpretations (Cambridge: Cambridge University Press, 2020).

[2] Els toms II/4.1 i II/4.2 van ser publicats abans de la interrupció de la MEGA², mentre que el II/4.3 va aparèixer el 2012. Amb aquest llibre publicat en tres parts són 67 el total de volums de la MEGA² publicats des de 1975. En el futur, alguns dels volums que vindran es publicaran només en format digital.

[3] De particular rellevància per al contingut de la biblioteca de Marx va ser la publicació del volum IV/32 de la MEGA², «Karl Marx – Friedrich Engels, Die Bibliotheken von Karl Marx und Friedrich Engels», editat per Hans-Peter Harstick, Richard Sperl i Hanno Strauß, Akademie, Berlín, 1999, consistent en un índex de 1.450 llibres (en 2.100 toms), dues terceres parts dels quals pertanyen a Marx i Engels. En aquesta compilació s’indiquen les pàgines de cada un dels volums en què Marx i Engels van deixar anotacions i notes al marge.

[4] Per a una revisió dels tretze volums de la MEGA² publicats entre 1998 (l’any que va sortir aquesta edició) i 2007, vegeu Marcello Musto, «The Rediscovery of Karl Marx», International Review of Social History, vol. 52 (2007), núm. 3: p. 477-498. El present assaig-ressenya cobreix els quinze volums (un total de 20.508 pàgines) publicats entre 2008 i 2019.

[5] Karl Marx, «Marx’s Undertaking Not to Publish Anything in Belgium on Current Politics», MECW, vol. 4, p. 677.

[6] Karl Marx, «Declaration against Karl Grün», MECW, vol. 6, p. 72.

[7] Karl Marx a Carl Wilhelm Julius Leske, 1 d’agost de 1846, MECW, vol. 38, p. 50.

[8] Friedrich Engels, Ludwig Feuerbach and the End of Classical German Philosophy, MECW, vol. 26, p. 519. De fet, Engels ja havia utilitzat l’expressió el 1859 en la seva ressenya del llibre de Marx Contribució a la crítica de l’economia política, però l’article no va tenir gaire ressò i el terme no va començar a circular fins a la publicació del seu Ludwig Feuerbach.

[9] Louis Althusser, For Marx, Londres: Verso, p. 33.

[10] Henri Lefebvre, Dialectical Materialism, Londres: Cape Editions, 1968, p. 71.

[11] Maximilien Rubel, Marx Life and Works, Londres: Macmillan, 1980. p. 13.

[12] David McLellan, Karl Marx, Londres: Fontana, 1975, p. 37.

[13] MEGA², vol. I/5, editat per Ulrich Pagel, Gerald Hubmann and Christine Weckwerth, Berlín: De Gruyter, 2017 (p. 1.893).

[14] Uns anys abans de la publicació del volum I/5 de la MEGA² sobre la base de l’edició alemanya de Karl Marx, Friedrich Engels i Joseph Weydemeyer, Die Deutsche Ideologie. Artikel, Druckvorlagen, Entwürfe, Reinschriftenfragmente und Notizen zu «I. Feuerbach» und «II Sankt Bruno», que apareixia com un número especial de la revista Marx-Engels Jahrbuch, vol. 2.003, Terrell Carver i David Blank havien tret una nova edició en anglès de l’anomenat «Capítol sobre Feuerbach»: Marx and Engels’s «German Ideology» Manuscripts: Presentation and Analysis of the «Feuerbach Chapter», Nova York: Palgrave, 2014. Tots dos autors defensen la màxima fidelitat als originals i critiquen l’edició del Marx-Engels Jahrbuch (ara incorporada al volum I/5) basant-se en el fet que, en línia amb els editors anteriors del segle xx, va ordenar els diferents manuscrits com si formessin l’esborrany d’una obra totalment cohesionada, si no acabada.

[15] Karl Marx – Friedrich Engels, The German Ideology, MECW, vol. 5, p. 28.

[16] Karl Marx – Friedrich Engels, Exzerpte und Notizen Juli bis August 1845, MEGA², vol. IV/4, editat per l’Institut für Marxismus-Leninismus, Berlín: Dietz, 1988.

[17] MEGA², vol. IV/5, editat per Georgij Bagaturija, Timm Graßmann, Aleksandr Syrov i Ljudmila Vasina, Berlín: De Gruyter, 2015 (p. 650).

[18] MEGA², vol. I/7, editat per Jürgen Herren i François Melis, Berlín: De Gruyter, 2016 (p. 1.774).

[19] Karl Marx, «The Bourgeoisie and the Counter-Revolution», MECW, vol. 8, p. 178.

[20] Karl Marx, The Class Struggles in France, 1848 to 1850, MECW, vol. 10, p. 134.

[21] MEGA2, I/16, editat per Claudia Rechel i Hanno Strauß, Berlín: De Gruyter, 2018 (p. 1.181).

[22] MEGA², vol. IV/14, editat per Kenji Mori, Rolf Hecker, Izumi Omura i Atsushi Tamaoka, Berlín: De Gruyter, 2017 (p. 680).

[23] Karl Marx a Friedrich Engels, 18 de desembre de 1857, MECW, vol. 40, p. 224.

[24] Karl Marx a Friedrich Engels, 16 de gener de 1858, MECW, vol. 40, p. 249.

[25] MEGA², vol. III/12, editat per Galina Golovina, Tat’jana Gioeva i Rolf Dlubek, Berlín: Akademie, 2013 (p. 1.529).

[26] Karl Marx, Theories of Surplus-Value, vol. I, MECW, vol. 30, p. 348.

[27] Karl Marx a Friedrich Engels, 18 de juny de 1862, MECW, vol. 41, p. 380.

[28] Karl Marx a Friedrich Engels, 10 de setembre 1862, MECW, vol. 41, p. 417.

[29] Karl Marx a Ludwig Kugelmann, 28 de desembre 1862, MECW, vol. 41, p. 436.

[30] MEGA2, vol. II/11, editat per Teinosuke Otani, Ljudmila Vasina i Carl-Erich Vollgraf, Berlín: Akademie, 2008 (p. 1.850).

[31] MEGA2, vol. II/13, Berlín: Akademie, 2008 (p. 800).

[32] MEGA2, vol. II/4.3, editat per Carl-Erich Vollgraf, Berlín: Akademie, 2012 (p. 1,065). Una petita part d’aquest text ha estat recentment traduïda a l’anglès: Karl Marx, «Marx’s Economic Manuscript of 1867–68 (Excerpt)», Historical Materialism, vol. 27 (2019), núm. 4, p. 162-192.

[33] El volum II/4.2 ha estat traduït a l’anglès fa poc: Fred Moseley (ed.), Marx’s Economic Manuscript of 1864-1865, Leiden: Brill, 2015.

[34] Vegeu Carl-Erich Vollgraf, «Einführung», a MEGA², vol. II/4.3, cit., p. 421-74.

[35] MEGA², vol. I/21, editat per Jürgen Herres, Berlín: Akademie, 2009 (p. 2.432).

[36] Alguns d’aquests textos, però, com les adreces i resolucions presentades als congressos de la Internacional, es van incloure en una antologia apareguda amb motiu del 150è aniversari d’aquesta organització: Marcello Musto (ed.), Workers Unite! The International 150 Years Later, Nova York: Bloomsbury, 2014.

[37] Karl Marx, «Confidential Communication», MECW, vol. 21, p. 120.

[38] Ibíd.

[39] MEGA², vol. IV/18, editat per Teinosuke Otani, Kohei Saito i Timm Graßmann, Berlín: De Gruyter, 2019 (p. 1.294).

[40] Karl Marx a Friedrich Engels, 25 de març de 1868, MECW, vol. 42, p. 557.

[41] Ibíd., p. 558-9.

[42] Sobre això, vegeu també el treball d’un dels editors del volum IV/18 de la MEGA²: Kohei Saito, Karl Marx’s Ecosocialism: Capital, Nature and the Unfinished Critique of Political Economy, Nova York: Monthly Review Press, 2017.

[43] MEGA², vol. IV/26, editat per Anneliese Griese, Peter Krüger i Richard Sperl, Berlín: Akademie, 2011 (p. 1.104).

[44] Ibíd., p. 139-679.

[45] Friedrich Engels, «Marx, Heinrich Karl», a MECW, vol. 27, p. 341. El gran interès de Marx en les ciències naturals, totalment desconegut durant molt de temps, es fa evident també al volum IV/31 de la MEGA², Karl Marx-Friedrich Engels, Naturwissenschaftliche Exzerpte und Notizen. Mitte 1877 bis Anfang 1883, editat per Annalise Griese, Friederun Fessen, Peter Jäckel i Gerd Pawelzig, Berlín: Akademie, 1999, que presenta les notes sobre química orgànica i inorgànica que Marx va prendre després de 1877.

[46] Vegeu Marcello Musto, The Last Years of Karl Marx: An Intellectual Biography, Stanford: Stanford University Press, 2020. Serà també una fita important la publicació aquest any del volum editat per David Smith, Marx’s World: Global Society and Capital Accumulation in Marx’s Late Manuscripts, Yale University Press.

[47] MEGA2, vol. I/30, editat per Renate Merkel-Melis, Berlín: Akademie, 2011 (p. 1.154).

[48] MEGA2, vol. III/30, editat per Gerd Callesen i Svetlana Gavril’čenko, Berlín: Akademie, 2013 (p. 1.512).

[49] MEGA2, vol. I/32, editat per Peer Kösling, Berlín: Akademie, 2010 (p. 1.590).

Categories
Journalism

Tambang-Tambang Potosí: Lokasi Harta Karun Dunia yang Terlupakan

KEKAYAAN Potosí di Bolivia mulai dikenal di Eropa pada 1545, ketika sekelompok conquistadores (pasukan penakluk) dari Spanyol bermukim di sana untuk mengeksploitasi harta karun terpendam. Kota itu kemudian berkembang pesat sehingga dalam kurun waktu 80 tahun sejak didirikan, populasinya mencapai 160 ribu jiwa, mengalahkan jumlah penduduk Paris, Roma, London, atau Sevilla.

Nama Potosí akhirnya tersohor di seluruh dunia. Diperkirakan sekitar 50 ribu ton perak telah disedot dari sana – cukup untuk membangun jembatan yang bisa menghubungkan kota itu dengan Spanyol. Tambang perak terbesar di dunia itu memproduksi logam dalam jumlah raksasa, yang diangkut dengan rombongan llama menuju pesisir Chile, sebelum dipindahkan ke kapal-kapal Iberia. Bagi kaum ningrat Potosí, segalanya terbuat dari perak dan nama daerah tersebut menjadi ungkapan bagi kemewahan: “it’s worth a Potosí“, tulis Miguël de Cervantes dalam Don Quixote. Artinya: senilai dengan sekian perak.

Namun, para penduduk asli Potosí diperbudak. Ketika kondisi-kondisi tak manusiawi mulai membunuh puluhan ribu penduduk asli, para penjajah mengimpor budak-budak baru dari Afrika, yang jumlahnya lebih dari 30 ribu orang. Jumlah total mereka yang mati di tambang-tambang tersebut tak dapat dihitung secara persis. Yang jelas, ‘peradaban Eropa’ telah mengundang genosida dan penjarahan.

Setelah dua abad eksploitasi, perak Potosí mulai habis. Mereka yang dapat meninggalkan Potosí dan area sekitarnya menghilang. Pada 1987, kota tersebut dideklarasikan sebagai situs warisan dunia UNESCO. Namun – seperti yang ditulis Eduardo Galeano dalam Open Veins of Latin America – yang tertinggal di sana hanyalah bayang-bayang kekayaan dari masa lalu.

Gunung Pemakan Manusia
Di jalan-jalan Potosí Anda akan menyadari keberadaan gunung raksasa yang tingginya nyaris mencapai 4800 meter. Namanya Cerro Rico, sang gunung pemakan manusia. Di Gunung yang besar, kemerah-merahan, dan penuh bintik-bintik itu, tampak dari jauh orang-orang yang bergegas untuk mencabik-cabiknya, beserta truk-truk yang naik dan turun untuk mengangkut batu-batuan berharga dari sana.

Wilayah atas kota ini adalah tempat para pekerja terkonsentrasi. Sekitar 6.000 pekerja tambang – jumlahnya bergantung pada harga logam di pasar global – bermukim di dekat puncak gunung dan menyandarkan hidupnya pada perak, juga seng, tembaga, dan timah, yang masih tersedia di sana. Mereka bekerja layaknya tukang, dengan peralatan-peralatan kasar dan pengetahuan yang diwariskan secara turun-temurun. Pekerjaan mereka mungkin yang paling parah di dunia. Bukan hanya melelahkan, tetapi juga mematikan. Mereka bisa mati sewaktu-waktu karena keadaan yang tidak aman. Walhasil, pekerja-pekerja ini berserah pada Tio, sosok ilahiah tempat mereka mengharapkan perlindungan dan kemujuran. Namun, pada akhirnya mereka tetap akan mati pelan-pelan, karena di rahang gunung tersebut, setiap hela napas mendekatkan mereka pada silicosis.

Perempuan tidak diizinkan untuk memasuki bagian dalam gunung. Hanya palliras yang diperbolehkan untuk naik ke sana, yaitu janda-janda para pekerja tambang yang memiliki hak untuk mengumpulkan batu-batuan yang kadang-kadang jatuh dari gerobak-gerobak yang beroperasi antara pintu masuk tambang dengan deretan truk. Mereka bertemu di pasar dan bersama dengan para pekerja lain berbelanja barang kebutuhan pokok, yakni daun koka yang penting untuk kerja sehari penuh di ketinggian, rokok linting yang mengandung kayu putih untuk menolong pernapasan, serta alkohol murni (96°) yang mereka minum pada jam istirahat agar dapat bertahan dalam kondisi-kondisi ekstrem.

Gerbang Menuju Neraka
Dengan didampingi oleh pemandu dan sekelompok pekerja tambang, saya mengunjungi beberapa lubang yang selama berabad-abad menganga di Cerro Rico. Meski di luar lubang cuacanya panas, suhu udara segera turun di bawah nol derajat setelah masuk beberapa ratus meter. Beberapa stalaktit membuat jalurnya sulit dilalui. Sementara itu, di beberapa titik ada genangan air setinggi pergelangan kaki yang merembes ke dalam sepatu bot. Jalur-jalur yang mudah dilewati silih berganti dengan jalur-jalur yang membuat kami nyaris harus berjalan dengan lutut karena terowongan yang tingginya sedikit di atas 1 meter itu semakin mengecil dan menyempit. Jika Anda berhenti di sini, rasa panik akan menguasai. Di luar sinar lampu helm yang temaram, semuanya betul-betul gelap dan sunyi. Sesekali kesunyian dipecahkan oleh gerobak yang mengangkut 1 ton atau lebih mineral tambang; roda-rodanya nyaris tidak dapat diperbaiki lagi sehingga butuh empat orang untuk mendorongnya. Jika hal ini terjadi, Anda harus lebih hati-hati dan merapat ke dinding agar mereka bisa lewat.

Kami terus maju. Beberapa menit kemudian, suhu udara tiba-tiba naik mencapai sekitar 40 derajat Celsius – perubahan mendadak yang menyiksa. Permukaan yang kami injak tidak lagi basah dan mengering. Kurangnya oksigen membuat napas kami sesak. Debu berhamburan: memasuki tenggorokan, paru-paru, dan mata. Anda harus terus berjalan sekian belas meter lagi, di mana suara di sekitar teramat bising. Di sinilah para pengebor bekerja. Pekerjaan mereka adalah yang terberat: harus mengebor dinding dan merobeknya dengan dinamit buatan sendiri. Mereka bekerja dengan nyaris telanjang, dalam kondisi paling menyedihkan. Beberapa menggunakan lift untuk turun sejauh 240 meter ke dalam lorong-lorong sempit mencari seng dan timah, sambil berharap untuk meraup bahan-bahan tersebut sebanyak mungkin, demi memperoleh upah mingguan.

Ini perjalanan panjang. Udara dingin merasuk ke dalam tulang. Ketika cahaya akhirnya tampak di kejauhan, ia tampak seperti kembalinya kehidupan. Rasanya begitu lama kami berjalan, padahal baru tiga jam. Sementara itu para mineros (pekerja tambang) lain berdatangan untuk menggantikan rombongan sebelumnya. Ketika melihat wajah-wajah mereka yang ramah namun dibuat keras oleh keadaan, Anda tidak dapat membayangkan bagaimana mungkin mereka menghabiskan setiap hari selama 30 tahun di neraka ini.

Ekonomi Semi-Kolonial
Dalam beberapa dekade terakhir, jumlah pekerja tambang Bolivia telah merosot drastis; angkanya kini 70 ribu, hanya 1,5 persen dari populasi dengan usia produktif. Namun, mereka memproduksi 25 persen ekspor negara ini dan 300 ribu orang lainnya mendapat pekerjaan dari sektor-sektor terkait, seperti transportasi, permesinan, dan perdagangan. Mengingat bahwa mereka juga merupakan salah satu lapisan proletar yang paling agresif di Amerika Latin, jelaslah bahwa posisi mereka masih sentral dalam kehidupan sosial-ekonomi negara termiskin di kawasan tersebut.

Meski Bolivia adalah produsen perak dan timah terbesar ketujuh di dunia, ekonominya masih ditandai oleh minimnya sarana-sarana penghidupan. Sekitar 90 persen pekerja tambangnya bekerja dalam korporasi tanpa perlindungan kerja dan jaminan sosial, namun hanya mengambil bagian dalam 20 persen dari seluruh kerja penambangan. Pasalnya, sektor ini didominasi oleh perusahaan-perusahaan multinasional: korporasi San Cristóbal asal Jepang bukan hanya mengontrol 85 persen pasar timah, tapi juga (bersama perusahaan Sinchi Wayra dari Swiss) 85 persen seng dan (lagi-lagi bersama Sinchi Warya dan perusahaan Panamerican Silver dari Amerika Serikat) 75 persen penambangan perak.

Keberadaan mereka tidak membawa perbaikan – lihat fakta bahwa sebagian besar tambang yang digunakan hari ini adalah tambang-tambang yang sama dengan yang digunakan di zaman kolonial. Tidak ada perubahan juga di level infrastruktur, karena mineral-mineral tambang masih diangkut dengan sistem kereta api dari tahun 1892. Kemajuan dalam otonomi nasional juga terbilang minim: Bolivia hanya mengolah sebagian kecil perak dan timahnya, sementara untuk seng malah sama sekali tidak. Ia harus membatasi diri pada ekspor bahan-bahan mentah dan mengirimkannya ke negara-negara di mana perusahaan-perusahaan multinasional yang mengontrol pasar bermarkas. Hanya sebagian kecil dari jutaan dolar pemasukan dari sektor ini yang disisakan untuk Bolivia. Korporasi-korporasi asing hanya membayar 8 persen pajak – angka yang jauh lebih rendah daripada 56 persen yang sebelumnya dibayarkan oleh BUMN Comibol, namun juga masih lebih rendah daripada 13,5 persen yang disetorkan oleh ‘baron-baron timah’ yang tersohor di tahun 1930-an.

Melihat kenyataan ini, dan mempertimbangkan kerusakan lingkungan serta perampasan sumber-sumber daya tak terbarukan, ada harapan Bolivia bergerak tanpa ragu mengejar nasionalisasi, demi mengakhiri ekonomi semi-kolonial dan memasuki fase modernisasi yang ramah lingkungan—dengan sikap hormat pada masyarakat adat yang hidup di wilayahnya.

Categories
Journal Articles

La alternativa posible de la Comuna de París

Los burgueses siempre lo habían conseguido todo. Desde la revolución de 1789, habían sido los únicos que se habían enriquecido en tiempos de prosperidad, mientras que la clase trabajadora había tenido que soportar regularmente el coste de las crisis. La proclamación de la Tercera República abrió nuevos escenarios y ofreció la oportunidad de revertir este rumbo. Napoleón III había sido derrotado y capturado por los alemanes, en Sedán, el 4 de septiembre de 1870. En enero un año después se rendía París, que había estado sitiada durante más de cuatro meses, lo que obligó a los franceses a aceptar las condiciones impuestas por Otto von Bismarck. Se produjo un armisticio que permitió la celebración de elecciones y el posterior nombramiento de Adolphe Thiers como jefe del poder ejecutivo, con el apoyo de una amplia mayoría legitimista y orleanista. En la capital, sin embargo, a diferencia del resto del país, la conjunción progresista-republicana tuvo éxito con una abrumadora mayoría y el descontento popular fue más generalizado que en otros lugares. La perspectiva de un ejecutivo que dejase inmutables todas las injusticias sociales, que quería desarmar la ciudad y estaba dispuesto a hacer recaer el precio de la guerra sobre los menos favorecidos, desató la rebelión. El 18 de marzo estalló una nueva revolución; Thiers y su ejército tuvieron que refugiarse en Versalles.

De lucha y de gobierno
Los insurgentes decidieron celebrar inmediatamente elecciones libres, para garantizar la legitimidad democrática de la insurrección. El 26 de marzo, una abrumadora mayoría (190.000 contra 40.000 votos) aprobó las razones de la revuelta y 70 de los 85 miembros electos se declararon a favor de la revolución. Los 15 representantes moderados del llamado “parti de maires” (partido de los alcaldes), grupo formado por ex presidentes de algunos distritos, dimitieron inmediatamente y no se incorporaron al consejo de la comuna. Poco después fueron seguidos por cuatro radicales. Los 66 miembros restantes, que no se distinguían fácilmente por su doble afiliación política, representaban posiciones muy variadas. Entre ellos había una veintena de republicanos neo-jacobinos (incluidos los influyentes Charles Delescluze y Felix Pyat), una docena de prosélitos de Auguste Blanqui, 17 miembros de la Asociación Internacional de Trabajadores (incluidos los mutualistas seguidores de Pierre-Joseph Proudhon, que con frecuencia no estaban de acuerdo con los colectivistas afines a Karl Marx) y un par de independientes. La mayoría de los miembros de la Comuna eran trabajadores o representantes reconocidos de la clase trabajadora. De ellos, 14 procedían de la Guardia Nacional. Fue precisamente el comité central de esta el que depositó el poder en manos de la Comuna, aunque este acto fue el inicio de una larga serie de contradicciones y conflictos entre las dos entidades.

El 28 de marzo, una gran masa de ciudadanos se reunió cerca del Hôtel de Ville y recibió con alegría la inauguración de la nueva asamblea que oficialmente tomó el nombre de la Comuna de París. Aunque solo duró 72 días, fue el evento político más importante en la historia del movimiento obrero del siglo XIX. La Comuna revivió la esperanza de una población agotada por meses de penurias. En los barrios surgieron comités y grupos en apoyo. En cada rincón de la metrópoli se multiplicaron las iniciativas de solidaridad y los planes para la construcción de un mundo nuevo. Montmartre pasó a llamarse “la ciudadela de la libertad”. Uno de los sentimientos predominantes fue el deseo de compartir. Militantes como Louise Michel dieron ejemplo por su espíritu de abnegación. Víctor Hugo escribió sobre ella: “Hiciste lo que hacen las grandes almas locas. Has dado gloria a los que están aplastados y sometidos”. Sin embargo, la Comuna no vivió gracias al impulso de un dirigente o de unas pocas figuras carismáticas. De hecho, su principal característica fue su dimensión claramente colectiva. Mujeres y hombres se ofrecieron voluntarios para un proyecto de liberación común. La autogestión ya no se consideró más una utopía. La auto-emancipación se convirtió en algo esencial.

La transformación del poder político
Entre los primeros decretos de emergencia proclamados para frenar la pobreza desenfrenada estaba el bloqueo del pago de los alquileres (era justo que “la propiedad hiciera su parte de sacrificio”) y la suspensión de la venta de objetos -por un valor no superior a 20 Francos-, depositados en las casas de empeño. También se crearon nueve comisiones colegiadas para reemplazar los ministerios existentes: guerra, finanzas, seguridad general, educación, subsistencia, justicia, trabajo y comercio, relaciones exteriores, y servicios públicos. Posteriormente se nombró un delegado para gestionar cada una de ellas.

El 19 de abril, tres días después de las elecciones parciales tras las cuales fue posible reemplazar los 31 escaños que quedaron vacantes casi de inmediato, la Comuna redactó la Declaración al Pueblo Francés, en la que se aseguraba “la garantía absoluta de la libertad individual, de la libertad de conciencia y la libertad de trabajo” y “la intervención permanente de la ciudadanía en los asuntos comunes”. Se afirmaba que el conflicto entre París y Versalles “no podía terminar con compromisos ilusorios” y que el pueblo tenía “el deber de luchar y vencer”. Mucho más significativos que el contenido de este texto, síntesis un tanto ambigua para evitar tensiones entre las distintas tendencias políticas, fueron los actos concretos a través de los cuales los militantes de la Comuna lucharon por una transformación total del poder político. Iniciaron una serie de reformas que tenían como objetivo cambiar profundamente no solo la forma en que se administraba la política, sino su propia naturaleza. La democracia directa de la Comuna preveía la revocabilidad de los representantes electos y el control de su labor a través de la vinculación de mandatos (medida insuficiente para resolver la compleja cuestión de la representación política). Los magistrados y otros cargos públicos, también sujetos a control permanente y la posibilidad de revocación, no serían designados arbitrariamente, como en el pasado, sino mediante oposición o elecciones transparentes. Había que impedir la profesionalización de la esfera pública. Las decisiones políticas no debían corresponder a pequeños grupos de funcionarios y técnicos, sino ser tomadas por el pueblo. Los ejércitos y las fuerzas policiales ya no serían instituciones separadas del cuerpo de la sociedad. La separación entre Iglesia y Estado era una necesidad indispensable.

Sin embargo, el cambio político no terminaba con la adopción de estas medidas. Debía ir mucho más a la raíz. La burocracia tenía que reducirse drásticamente, transfiriendo el ejercicio del poder a manos del pueblo. El ámbito social tenía que prevalecer sobre el político y este último – como ya había argumentado Henri de Saint-Simon – dejaría de existir como función especializada, ya que sería asimilado progresivamente por las actividades de la sociedad civil. El cuerpo social recuperaría así las funciones que habían sido transferidas al estado. Derribar la dominación de clase existente no era suficiente; había que extinguir el dominio de clase como tal. Todo esto habría permitido la realización del plan diseñado por los comuneros: una república constituida por la unión de asociaciones libres verdaderamente democráticas que se convertirían en impulsoras de la emancipación de todos sus componentes. Era el autogobierno de los productores.

La prioridad de las reformas sociales
La Comuna creía que las reformas sociales eran incluso más relevantes que las transformaciones en el orden político. Representaban su razón de ser, el termómetro con el que medir la fidelidad a los principios para los que había nacido, el elemento de diferenciación definitivo frente a las revoluciones que la habían precedido en 1789 y 1848. La Comuna ratificó varias disposiciones con una clara connotación de clase. La fecha de vencimiento de las deudas se pospuso tres años, sin pago de intereses. Se suspendieron los desahucios por impago de los alquileres y se adoptaron medidas para que las casas desocupadas fueran requisadas a favor de las personas sin hogar. Se hicieron proyectos para limitar la duración de la jornada laboral (de las 10 horas iniciales a las ocho previstas en el futuro), se prohibió, bajo sanción, la práctica generalizada entre los empresarios de imponer multas espurias a los trabajadores con el único propósito de reducir sus salarios. Se decretaron salarios mínimos decentes. Se adoptó la prohibición de la acumulación de múltiples puestos de trabajo y se estableció un límite máximo para los salarios de los cargos públicos. Se hizo todo lo posible para aumentar el suministro de alimentos y reducir los precios. Se prohibió el trabajo nocturno en las panaderías y se abrieron algunas carnicerías municipales. Se implementaron diversas medidas de asistencia social para los más vulnerables, incluido el suministro de alimentos a mujeres y niños abandonados, y se aprobó el fin de la discriminación entre niños legítimos y naturales.

Todos los comuneros creían que la educación era un factor indispensable para la liberación de los individuos, sinceramente convencidos de que representaba el requisito previo de cualquier cambio social y político serio y duradero. Por tanto, animaron múltiples y relevantes debates en torno a las propuestas de reforma del sistema educativo. La escuela sería obligatoria y gratuita para todos, niños y niñas. La enseñanza religiosa sería reemplazada por la enseñanza laica, inspirada en el pensamiento racional y científico, y los costes del culto ya no recaerían en el presupuesto estatal. En las comisiones especialmente creadas y en la prensa se produjeron numerosas tomas de posición destacando cuán fundamental era la decisión de invertir en la educación femenina. Para convertirse verdaderamente en un “servicio público”, la escuela tenía que ofrecer las mismas oportunidades a los “niños de ambos sexos”. Por último, debía prohibir “las distinciones de raza, nacionalidad, fe o posición social”. Los avances de carácter teórico fueron acompañados de las primeras iniciativas prácticas y, en más de un distrito, miles de niños de la clase trabajadora recibieron material didáctico gratuito y entraron, por primera vez, en un edificio escolar.

La Comuna también legisló medidas de carácter socialista. Se decidió que los talleres abandonados por los propietarios que habían huido de la ciudad, a quienes se les garantizó una indemnización a su regreso, serían entregados a asociaciones cooperativas de trabajadores. Los teatros y museos -que estarían abiertos a todos y no serían de pago- fueron colectivizados y confiados a la dirección de quienes se habían adherido a la “Federación de Artistas de París”, presidida por el pintor e incansable militante Gustave Courbet. En él participaron unos 300 escultores, arquitectos, litógrafos y pintores (entre muchos también Édouard Manet). A esta iniciativa le siguió el nacimiento de la “Federación artística” que agrupó a los actores y al mundo de la ópera.

Todas estas acciones y disposiciones se llevaron a cabo sorprendentemente en solo 54 días, en un París todavía atormentado por los efectos de la guerra franco-prusiana. La Comuna sólo pudo funcionar del 29 de marzo al 21 de mayo y, además, en medio de una heroica resistencia a los ataques de Versalles, en una defensa que requería un gran derroche de energía humana y de recursos económicos. Además, dado que la Comuna no tenía ningún medio de coerción, muchas de las decisiones tomadas no se aplicaron de manera uniforme en el amplio territorio de la ciudad. Sin embargo, constituyeron un notable intento de reforma social y señalaron el camino de un posible cambio.

Una lucha colectiva y feminista
La Comuna fue mucho más que las medidas aprobadas por su asamblea legislativa. Incluso aspiró a alterar sustancialmente el espacio urbano, como lo demuestra la decisión de demoler la Columna Vendôme, reputada como un monumento a la barbarie y símbolo reprensible de la guerra, y secularizar algunos lugares de culto, destinando su uso a la comunidad. La Comuna vivió gracias a una extraordinaria participación masiva y un sólido espíritu de ayuda mutua. En este levantamiento contra la autoridad jugaron un papel destacado los clubes revolucionarios, que surgieron con increíble rapidez en casi todos los distritos. Se establecieron 28 y representaron uno de los ejemplos más importantes de la movilización espontánea que acompañó a la Comuna. Abiertos todas las noches, ofrecieron a la ciudadanía la oportunidad de reunirse, después del trabajo, para discutir libremente la situación social y política, verificar lo que habían logrado sus representantes y sugerir alternativas para la solución de los problemas cotidianos. Se trataba de asociaciones horizontales que favorecían la formación y expresión de la soberanía popular, pero también espacios de auténtica hermandad y fraternidad de hombres y mujeres. Eran espacios donde todos podían respirar la embriagadora posibilidad de convertirse en dueños de su propio destino.

En esta vía de emancipación no existía la discriminación nacional. El título de ciudadano de la Comuna estaba garantizado a todos los que trabajaban por su desarrollo y los extranjeros tenían los mismos derechos sociales garantizados que los franceses. Prueba de este principio de igualdad fue el papel predominante que asumieron varios extranjeros (unos 3.000 en total). El húngaro, miembro de la Asociación Internacional de Trabajadores, Léo Frankel, no solo fue uno de los funcionarios electos de la Comuna, sino también el responsable de la comisión de trabajo, uno de los “ministerios” más importantes de París. Los polacos Jaroslaw Dombrowski y Walery Wroblewski, fueron nombrados generales con mando de la Guardia Nacional y desempeñaron un papel igualmente importante.

En este contexto, las mujeres, aún privadas del derecho al voto y, en consecuencia, también de sentarse entre los representantes del Consejo de la Comuna, jugaron un papel fundamental en la crítica del orden social existente. Transgredieron las normas de la sociedad burguesa y afirmaron su nueva identidad en oposición a los valores de la familia patriarcal. Salieron de la dimensión privada y se ocuparon de la esfera pública. Formaron la “Unión de Mujeres por la Defensa de París y por la Atención a los Heridos” (nacida gracias a la incesante actividad de Élisabeth Dmitrieff, militante de la Asociación Internacional de Trabajadores) y jugaron un papel central en la identificación de batallas sociales estratégicas. Consiguieron el cierre de los burdeles, lograron la igualdad salarial con los maestros varones, acuñaron el lema “a igual trabajo, igual salario”, reclamaron igualdad de derechos en el matrimonio, exigieron el reconocimiento de las uniones libres, promovieron la creación de cámaras sindicales exclusivamente femeninas. Cuando, a mediados de mayo, la situación militar empeoró, cuando las tropas de Versalles llegaron a las puertas de París, las mujeres tomaron las armas e incluso lograron formar su propio batallón. Muchos expiraron su último aliento en las barricadas. La propaganda burguesa las convirtió en objeto de los ataques más despiadados, acusándolas de haber incendiado la ciudad durante los enfrentamientos y atribuyéndoles el despectivo calificativo de “las petroleras”.

¿Centralizar o descentralizar?
La Comuna quería establecer una auténtica democracia. Era un proyecto ambicioso y difícil. La soberanía popular a la que aspiraban los revolucionarios implicaba la participación del mayor número posible de ciudadanos. A finales de marzo, se habían desarrollado en París una miríada de comisiones centrales, subcomités de barrio, clubes revolucionarios y batallones de soldados que flanqueaban el duopolio ya complejo compuesto por el consejo de la Comuna y el comité central de la Guardia Nacional. Este último, de hecho, había conservado el control del poder militar, a menudo operando como un verdadero contrapoder del primero. Si el compromiso directo de una gran parte de la población constituía una garantía democrática vital, la multiplicidad de autoridades sobre el terreno complicaban el proceso de toma de decisiones y hacían tortuosa la aplicación de las ordenanzas.

El problema de la relación entre la autoridad central y los organismos locales produjo no pocos cortocircuitos, lo que resultó en una situación caótica y muchas veces paralizante. El ya precario equilibrio saltó por completo cuando, ante la emergencia de la guerra, la indisciplina presente en las filas de la Guardia Nacional y una creciente ineficacia de la acción gubernamental, Jules Miot propuso la creación de un Comité de Salud Pública de cinco integrantes – una solución inspirada en el modelo dictatorial de Maximilien Robespierre de 1793. La medida fue aprobada el 1 de mayo, por 45 votos a favor y 23 en contra. Fue un error dramático que decretó el principio del fin de una experiencia política sin precedentes y dividió a la Comuna en dos bloques opuestos. A los primeros pertenecían los neo-jacobinos y blanquistas, partidarios de la concentración del poder y, en última instancia, de la primacía de la dimensión política sobre la social. El segundo incluía a la mayoría de los miembros de la Asociación Internacional de Trabajadores, para quienes el ámbito social era más importante que el político. Consideraban necesaria la separación de poderes y creían que la república nunca debía cuestionar las libertades políticas. Coordinados por el infatigable Eugène Varlin, hicieron público su claro rechazo a las derivas autoritarias y no participaron en la elección del Comité de Salud Pública. Para ellos, el poder centralizado en manos de unos pocos individuos contradecía los postulados de la Comuna. Sus cargos electos no eran los poseedores de la soberanía -esta pertenecía al pueblo- y, por tanto, no tenían derecho a enajenarla. El 21 de mayo, cuando la minoría participó nuevamente en una sesión del consejo de la Comuna, se hizo un nuevo intento de restablecer la unidad en su seno. Pero ya era demasiado tarde.

La Comuna, sinónimo de la revolución
La Comuna de París fue reprimida con brutal violencia por los ejércitos de Versalles. Durante la llamada “semana sangrienta” (del 21 al 28 de mayo) fueron muertos entre 17.000 y 25.000 ciudadanos. Los últimos enfrentamientos tuvieron lugar a lo largo del perímetro del cementerio de Père-Lachaise. El joven Arthur Rimbaud describió la capital francesa como una “ciudad dolorosa, casi muerta”. Fue la masacre más violenta de la historia de Francia. Solo 6.000 comuneros lograron escapar y refugiarse en el exilio en Inglaterra, Bélgica y Suiza. Hubo 43.522 prisioneros. Un centenar de ellos fueron condenados a muerte tras juicios sumarísimos de los consejos de guerra, mientras que otros 13.500 fueron enviados a prisión, a trabajos forzados o deportados (en buena parte, especialmente, a la remota Nueva Caledonia). Algunos de ellos se solidarizaron y compartieron la misma suerte que los insurgentes argelinos que habían liderado la revuelta anticolonial de Mokrani, que tuvo lugar al mismo tiempo que la Comuna y que también fue aplastada violentamente por las tropas francesas.

El espectro de la Comuna intensificó la represión anti-socialista en toda Europa. Justificando la violencia estatal sin precedentes ejercida por Thiers, la prensa conservadora y liberal acusó a los comuneros de los peores crímenes y expresó gran alivio por la restauración del “orden natural” y la legalidad burguesa, así como su satisfacción por el triunfo de la “civilización” sobre la “anarquía”. Aquellos que se habían atrevido a cuestionar la autoridad y atacar los privilegios de la clase dominante fueron castigados de manera ejemplar. Las mujeres volvieron a ser consideradas seres inferiores y los trabajadores, con sus manos sucias y llenas de callos, que se habían atrevido a pensar que podían gobernar, fueron devueltos a los lugares que se les reservaba en la sociedad.

Sin embargo, la insurrección parisina dio fuerza a las luchas de los trabajadores y las empujó hacia posiciones más radicales. A raíz de su derrota, Eugène Pottier escribió una canción destinada a convertirse en la más famosa del movimiento obrero. Sus versos dicen: “¡Agrupémonos todos en la lucha final. El género humano es la internacional! (Groupons-nous, et demain, L’Internationale sera le genre humain!). París había demostrado que era necesario perseguir el objetivo de construir una sociedad radicalmente diferente de la capitalista. A partir de ese momento, aunque El tiempo de las cerezas nunca llegó para sus protagonistas (según el título de la célebre canción compuesta por el comunero Jean Baptiste Clément), la Comuna encarnó la idea abstracta y el cambio concreto al mismo tiempo. Se convirtió en sinónimo del concepto mismo de revolución, fue una experiencia ontológica de la clase trabajadora. En La guerra civil en Francia, Marx afirmó que esta “vanguardia del proletariado moderno” logró “acercar a los trabajadores de todo el mundo a Francia”. La Comuna de París cambió la conciencia de los trabajadores y su percepción colectiva. Después de 150 años, su bandera roja sigue ondeando y nos recuerda que siempre es posible una alternativa. Vive la Commune!

Traducción de Gustavo Buster

Categories
Book chapter

Alienation Redux

I. The origin of the concept
Alienation was one of the most important and widely debated themes of the 20th century, and Marx’s theorization played a key role in the discussions. Yet, contrary to what one might imagine, the concept itself did not develop in a linear manner, and the publication of previously unknown texts containing Marx’s reflections on alienation defined significant moments in the transformation and dissemination of the theory.

The meaning of the term changed several times over the centuries. In theological discourse it referred to the distance between man and God; in social contract theories, to loss of the individual’s original liberty; and in English political economy, to the transfer of property ownership. The first systematic philosophical account of alienation was in the work of G.W.F. Hegel (1770–1831), who in The Phenomenology of Spirit (1807) adopted the terms Entäusserung (literally self-externalization or renunciation) and Entfremdung (estrangement) to denote spirit’s becoming other than itself in the realm of objectivity. The whole question still featured prominently in the writings of the Hegelian Left, and Ludwig Feuerbach’s (1804–1872) theory of religious alienation – that is, of man’s projection of his own essence onto an imaginary deity – elaborated in the book The Essence of Christianity (1841), contributed significantly to the development of the concept.

Alienation subsequently disappeared from philosophical reflection, and none of the major thinkers of the second half of the 19th century paid it any great attention. Even Marx rarely used the term in the works published during his lifetime, and it was entirely absent from the Marxism of the Second International (1889–1914).

During this period, however, several thinkers developed concepts that were later associated with alienation. In his Division of Labour (1893) and Suicide (1897), Émile Durkheim (1858–1917) introduced the term ‘anomie’ to indicate a set of phenomena whereby the norms guaranteeing social cohesion enter into crisis following a major extension of the division of labour. Social trends concomitant with huge changes in the production process also lay at the basis of the thinking of German sociologists: Georg Simmel (1858–1918), in The Philosophy of Money (1900), paid great attention to the dominance of social institutions over individuals and to the growing impersonality of human relations; while Max Weber (1864–1920), in Economy and Society (1922), dwelled on the phenomena of ‘bureaucratization’ in society and ‘rational calculation’ in human relations, considering them to be the essence of capitalism. But these authors thought they were describing unstoppable tendencies, and their reflections were often guided by a wish to improve the existing social and political order – certainly not to replace it with a different one.

II. The rediscovery of alienation
The rediscovery of the theory of alienation occurred thanks to György Lukács (1885–1971), who in History and Class Consciousness (1923) referred to certain passages in Marx’s Capital (1867) – especially the section on ‘commodity fetishism’ [Der Fetischcharakter der Ware] – and introduced the term ‘reification’ [Verdinglichung, Versachlichung] to describe the phenomenon whereby labour activity confronts human beings as something objective and independent, dominating them through external autonomous laws. In essence, however, Lukács’s theory was still similar to Hegel’s, since he conceived of reification as an ‘central structural problem’. Much later, after the appearance of a French translation by Kostas Axelos (1924–2010) and Jacqueline Bois (?) had given this work a wide resonance among students and left-wing activists, Lukács decided to republish it together with a long self-critical preface (1967), in which he explained that ‘History and Class Consciousness follows Hegel in that it too equates alienation with objectification’.

Another author who focused on this theme in the 1920s was Isaak Rubin (1886–1937), whose Essays on Marx’s Theory of Value (1928) argued that the theory of commodity fetishism was ‘the basis of Marx’s entire economic system, and in particular of his theory of value’. In the view of this Russian author, the reification of social relations was ‘a real fact of the commodity-capitalist economy.’ It involved ‘‘materialization’ of production relations and not only ‘mystification’ or illusion. This is one of the characteristics of the economic structure of contemporary society. […] Fetishism is not only a phenomenon of social consciousness, but of social being.’ Despite these insights – prescient if we consider the period in which they were written – Rubin’s work did not promote a greater familiarity with the theory of alienation. Its reception in the West began only with its translation into English in 1972 and then from English into other languages.

The decisive event that finally revolutionized the diffusion of the concept of alienation was the appearance in 1932 of the Economic and Philosophic Manuscripts of 1844, a previously unpublished text from Marx’s youth. It rapidly became one of the most widely translated, circulated and discussed philosophical writings of the 20th century, revealing the central role that Marx had given to the theory of alienation during an important period for the formation of his economic thought: the discovery of political economy. For, with his category of alienated labour [entfremdete Arbeit], Marx not only widened the problem of alienation from the philosophical, religious and political sphere to the economic sphere of material production; he also showed that the economic sphere was essential to understanding and overcoming alienation in the other spheres. In the Economic and Philosophic Manuscripts of 1844, alienation is presented as the phenomenon through which the labour product confronts labour ‘as something alien, as a power independent of the producer’. For Marx,

the alienation [Entäusserung] of the worker in his product means not only that his labor becomes an object, an external existence, but that it exists outside him, independently, as something alien to him, and that it becomes a power on its own confronting him; it means that the life which he has conferred on the object confronts him as something hostile and alien.

Alongside this general definition, Marx listed four ways in which the worker is alienated in bourgeois society: 1) from the product of his labour, which becomes ‘an alien object that has power over him’; 2) in his working activity, which he perceives as ‘directed against himself’, as if it ‘does not belong to him’; 3) from ‘man’s species-being’, which is transformed into ‘a being alien to him’; and 4) from other human beings, and in relation to ‘the other man’s labour and object of labour.’

For Marx, in contrast to Hegel, alienation was not coterminous with objectification as such, but rather with a particular phenomenon within a precise form of economy: that is, wage labour and the transformation of labour products into objects standing opposed to producers. The political difference between these two positions is enormous. Whereas Hegel presented alienation as an ontological manifestation of labour, Marx conceived it as characteristic of a particular, capitalist, epoch of production, and thought it would be possible to overcome it through ‘the emancipation of society from private property’. He would make similar points in the notebooks containing extracts from James Mill’s (1773–1836) Elements of Political Economy (1821):

My work would be a free manifestation of life, hence an enjoyment of life. Presupposing private property, my work is an alienation of life, for I work in order to live, in order to obtain for myself the means of life. My work is not my life. Secondly, the specific nature of my individuality, therefore, would be affirmed in my labour, since the latter would be an affirmation of my individual life. Labour therefore would be true, active property. Presupposing private property, my individuality is alienated to such a degree that this activity is instead hateful to me, a torment, and rather the semblance of an activity. Hence, too, it is only a forced activity and one imposed on me only through an external fortuitous need, not through an inner, essential one.

So, even in these fragmentary and sometimes hesitant early writings, Marx always discussed alienation from a historical, not a natural, point of view.

III. The other conceptions of alienation
Much time would elapse, however, before a historical, non-ontological, conception of alienation could take hold. In the early 20th century, most authors who addressed the phenomenon considered it a universal aspect of human existence. In Being and Time (1927), for instance, Martin Heidegger (1889–1976) approached it in purely philosophical terms. The category he used for his phenomenology of alienation was ‘fallenness’ [Verfallen], that is the tendency of Being-There [Dasein] – which in Heidegger’s philosophy indicates the ontologically constituted human existence – to lose itself in the inauthenticity and conformism of the surrounding world.

For Heidegger, ‘fallenness into the world means an absorption in Being-with-one-another, in so far as the latter is guided by idle talk, curiosity, and ambiguity’ – something truly quite different from the condition of the factory worker, which was at the centre of Marx’s theoretical preoccupations. Moreover, Heidegger did not regard this ‘fallenness’ as a ‘bad and deplorable ontical property of which, perhaps, more advanced stages of human culture might be able to rid themselves’, but rather as an ontological characteristic, ‘an existential mode of Being-in-the-world’.

Herbert Marcuse (1898–1979), who, unlike Heidegger, knew Marx’s work well, identified alienation with objectification as such, not with its manifestation in capitalist relations of production. In an essay he published in 1933, he argued that ‘the burdensome character of labor’ could not be attributed merely to ‘specific conditions in the performance of labor, to the social-technical structuring of labor’, but should be considered as one of its fundamental traits:

in laboring, the laborer is always ‘with the thing’: whether one stands by a machine, draws technical plans, is concerned with organizational measures, researches scientific problems, instructs people, etc. In his activity he allows himself to be directed by the thing, subjects himself and obeys its laws, even when he dominates his object. […] In each case he is not ‘with himself’ […] he is with an ‘Other than himself’ – even when this doing fulfils his own freely assumed life. This externalization and alienation of human existence […] is ineliminable in principle.

For Marcuse, there was a ‘primordial negativity of laboring activity’ that belonged to the ‘very essence of human existence’. The critique of alienation therefore became a critique of technology and labour in general, and its supersession was considered possible only in the moment of play, when people could attain a freedom denied them in productive activity: ‘In a single toss of a ball, the player achieves an infinitely greater triumph of human freedom over objectification than in the most powerful accomplishment of technical labor.’

In Eros and Civilization (1955), Marcuse took an equally clear distance from Marx’s conception, arguing that human emancipation could be achieved only through the abolition of labour and the affirmation of the libido and play in social relations. He discarded any possibility that a society based on common ownership of the means of production might overcome alienation, on the grounds that labour in general, not only wage labour, was

work for an apparatus which they [the vast majority of the population] do not control, which operates as an independent power to which individuals must submit if they want to live. And it becomes the more alien the more specialized the division of labor becomes. […] They work […] in alienation [… in the] absence of gratification [and in] negation of the pleasure principle.

The cardinal norm against which people should rebel was the ‘performance principle’ imposed by society. For, in Marcuse’s eyes:

the conflict between sexuality and civilization unfolds with this development of domination. Under the rule of the performance principle, body and mind are made into instruments of alienated labor; they can function as such instruments only if they renounce the freedom of the libidinal subject-object which the human organism primarily is and desires. […] Man exists […] as an instrument of alienated performance.

Hence, even if material production is organized equitably and rationally, ‘it can never be a realm of freedom and gratification […] It is the sphere outside labor which defines freedom and fulfilment.’ Marcuse’s alternative was to abandon the Promethean myth so dear to Marx and to draw closer to a Dionysian perspective: the ‘liberation of eros’. In contrast to Sigmund Freud (1856–1939), who had maintained in Civilization and Its Discontents (1929) that a non-repressive organization of society would entail a dangerous regression from the level of civilization attained in human relations, Marcuse was convinced that, if the liberation of the instincts took place in a technologically advanced ‘free society’ in the service of humanity, it would not only favour the march of progress but create ‘new and durable work relations’.

In this evolution of his thinking, a significant influence was exerted by the ideas of Charles Fourier (1772–1837) who, in his Theory of the Four Movements (1808), opposed advocates of the ‘commercial system’, to whom he used in a derogatory way the epithet of ‘civilized people’, and maintained that society would be free only when all its components had returned to expressing their passions. These were far more important to him than reason, ‘in the name of which were perpetrated all the massacres that history remembers’. According to Fourier, the main error of the political regime of his age was the repression of human nature. ‘Harmony’ would only be possible only if the individuals could have unleashed, as when they were in their natural state, all their instincts.

As for Marcuse, and his belief to oppose the technological domain in general, his indications about how the new society might come about were rather vague and utopian. He ended up opposing technological domination in general, so that his critique of alienation was no longer directed against capitalist relations of production, and his reflections on social change were so pessimistic as to include the working class among the subjects that operated in defence of the system.

The two leading figures in the Frankfurt School, Max Horkheimer (1895–1973) and Theodor Adorno (1903–1965), also developed a theory of generalized estrangement resulting from invasive social control and the manipulation of needs by the mass media. In Dialectic of Enlightenment (1944) they argued that ‘a technological rationale is the rationale of domination itself. It is the coercive nature of society alienated from itself.’ This meant that, in contemporary capitalism, even the sphere of leisure time – free and outside of work – was absorbed into the mechanisms reproducing consensus.

After World War II, the concept of alienation also found its way into psychoanalysis. Those who took it up started from Freud’s theory that man is forced to choose between nature and culture, and that, to enjoy the securities of civilization, he must necessarily renounce his impulses. Some psychologists linked alienation with the psychoses that appeared in certain individuals as a result of this conflict-ridden choice, thereby reducing the whole vast problematic of alienation to a merely subjective phenomenon.

The author who dealt most with alienation from within psychoanalysis was Erich Fromm (1900–1980). Unlike most of his colleagues, he never separated its manifestations from the capitalist historical context; indeed, his books The Sane Society (1955) and Marx’s Concept of Man (1961) used the concept to try to build a bridge between psychoanalysis and Marxism. Yet Fromm likewise always put the main emphasis on subjectivity, and his concept of alienation, which he summarized as ‘a mode of experience in which the individual experiences himself as alien’, remained too narrowly focused on the individual. Moreover, his account of Marx’s concept based itself only on the Economic and Philosophic Manuscripts of 1844 and showed a deep lack of understanding of the specificity and centrality of alienated labour in Marx’s thought. This lacuna prevented Fromm from giving due weight to objective alienation (that of the worker in the labour process and in relation to the labour product) and led him to advance positions that appear disingenuous in their neglect of the underlying structural relations.

Marx believed that the working class was the most alienated class. [… He] did not foresee the extent to which alienation was to become the fate of the vast majority of people. […] If anything, the clerk, the salesman, the executive, are even more alienated today than the skilled manual worker. The latter’s functioning still depends on the expression of certain personal qualities like skill, reliability, etc., and he is not forced to sell his ‘personality’, his smile, his opinions in the bargain.

One of the principal non-Marxist theories of alienation is that associated with Jean-Paul Sartre (1905–1980) and the French existentialists. Indeed, in the 1940s, marked by the horrors of war and the ensuing crise de conscience, the phenomenon of alienation – partly under the influence of Alexandre Kojève’s (1902–1968) neo-Hegelianism – became a recurrent reference both in philosophy and in narrative literature. Once again, however, the concept is much more generic than in Marx’s thought, becoming identified with a diffuse discontent of man in society, a split between human individuality and the world of experience, and an insurmountable condition humaine. The existentialist philosophers did not propose a social origin for alienation, but saw it as inevitably bound up with all ‘facticity’ (no doubt the failure of the Soviet experience favoured such a view) and human otherness. In 1955, Jean Hippolyte (1907–1968) set out this position in one of the most significant works in this tendency:

[alienation] does not seem to be reducible solely to the concept of the alienation of man under capitalism, as Marx understands it. The latter is only a particular case of a more universal problem of human self-consciousness which, being unable to conceive itself as an isolated cogito, can only recognize itself in a word which it constructs, in the other selves which it recognizes and by whom it is occasionally disowned. But this manner of self-discovery through the Other, this objectification, is always more or less an alienation, a loss of self and a simultaneous self-discovery. Thus, objectification and alienation are inseparable, and their union is simply the expression of a dialectical tension observed in the very movement of history.

Marx helped to develop a critique of human subjugation, basing himself on opposition to capitalist relations of production. The existentialists followed an opposite trajectory, trying to absorb those parts of Marx’s work that they thought useful for their own approach, in a merely philosophical discussion devoid of a specific historical critique.

IV. The debate on the conception of alienation in Marx’s early writings
The alienation debate that developed in France frequently drew upon Marx’s theories. As the Second World War gave way to a sense of profound anguish resulting from the barbarities of Nazism and fascism, the theme of the condition and destiny of the individual in society acquired great prominence. A growing philosophical interest in Marx was apparent everywhere in Europe. Often, however, it referred only to the Economic and Philosophic Manuscripts of 1844; not even the sections of Capital that Lukács had used to construct his theory of reification were taken into consideration. Moreover, some sentences from the Economic and Philosophic Manuscripts of 1844 were taken out of context and transformed into sensational quotes supposedly proving the existence of a radically different ‘new Marx’, saturated with philosophy and free of the economic determinism that critics attributed to Capital – often without having read it. Again on the basis of the 1844 texts, the French existentialists laid by far the greatest emphasis on the concept of self-alienation [Selbstentfremdung], that is, the alienation of the worker from the human species and from others like himself – a phenomenon that Marx did discuss in his early writings, but always in connection with objective alienation.

The same error appears in a leading figure of post-war political theory, Hannah Arendt (1906–1975). In her The Human Condition (1958), she built her account of Marx’s concept of alienation around the Economic and Philosophic Manuscripts of 1844, even then isolating out only one of the types mentioned there by Marx: subjective alienation. This allowed her to claim:

expropriation and world alienation coincide, and the modern age, very much against the intentions of all the actors in the play, began by alienating certain strata of the population from the world. […] World alienation, and not self-alienation as Marx thought, has been the hallmark of the modern age.

Evidence of her scant familiarity with Marx’s mature work is the fact that, in conceding that Marx ‘was not altogether unaware of the implications of world alienation in capitalist economy’, she referred only to a few lines in his very early journalistic piece, ‘The Debates on the Wood Theft Laws’ (1842), not to the dozens of much more important pages in Capital and the preparatory manuscripts leading up to it. Her surprising conclusion was: ‘such occasional considerations play[ed] a minor role in his work, which remained firmly rooted in the modern age’s extreme subjectivism’. Where and how Marx prioritized ‘self-alienation’ in his analysis of capitalist society remains a mystery that Arendt never elucidated in her writings.

In the 1960s, the theory of alienation in the Economic and Philosophic Manuscripts of 1844 became the major bone of contention in the wider interpretation of Marx’s work. It was argued that a sharp distinction should be drawn between an ‘early Marx’ and a ‘mature Marx’ – an arbitrary and artificial opposition favoured both by those who preferred the early philosophical work and those for whom the only real Marx was the Marx of Capital (among them Louis Althusser (1918–1980) and the Russian scholars). Whereas the former considered the theory of alienation in the Economic and Philosophic Manuscripts of 1844 to be the most significant part of Marx’s social critique, the latter often exhibited a veritable ‘phobia of alienation’ and tried at first to downplay its relevance; or, when this strategy was no longer possible, the whole theme of alienation was written off as ‘a youthful peccadillo, a residue of Hegelianism’ that Marx later abandoned. Scholars in the first camp retorted that the 1844 manuscripts were written by a man of twenty-six just embarking on his major studies; but those in the second camp still refused to accept the importance of Marx’s theory of alienation, even when the publication of new texts made it clear that he never lost interest in it and that it occupied an important position in the main stages of his life’s work.

With the passage of time, successive supporters of the two positions engaged in lively debate, offering different answers concerning the ‘continuity’ of his thought. Were there in fact two distinct thinkers: an early Marx and a mature Marx? Or was there only one Marx, whose convictions remained substantially the same over the decades?

The opposition between these two views became ever sharper. The first, uniting Marxist-Leninist orthodoxy with those in Western Europe and elsewhere who shared its theoretical and political tenets, downplayed or dismissed altogether the importance of Marx’s early writings; they presented them as completely superficial in comparison with his later works and, in so doing, advanced a decidedly anti-humanist conception of his thought. The second view, advocated by a more heterogeneous group of authors, had as its common denominator a rejection of the dogmatism of official Communism and the correlation that its exponents sought to establish between Marx’s thought and the politics of the Soviet Union.

A couple of quotations from two major protagonists in the 1960s will do more than any possible commentary to elucidate the terms of the debate. For Althusser:

first of all, any discussion of Marx’s Early Works is a political discussion. Need we be reminded that Marx’s Early Works […] were exhumed by Social-Democrats and exploited by them to the detriment of Marxism-Leninism? […] This is the location of the discussion: the Young Marx. Really at stake in it: Marxism. The terms of the discussion: whether the Young Marx was already and wholly Marx.

Iring Fetscher (1922–2014), on the other hand, wrote that

the early writings of Marx centre so strongly on the liberation of man from every form of exploitation, domination and alienation, that a Soviet reader must have understood these comments as a criticism of his own situation under Stalinist domination. For this reason then, the early writings of Marx were never published in large, cheap editions in Russian. They were considered to be relatively insignificant works by the young Hegelian Marx who had not yet developed Marxism.

To argue, as so many did, that the theory of alienation in the Economic and Philosophic Manuscripts of 1844 was the central theme of Marx’s thought was so obviously wrong that it demonstrated no more than ignorance of his work. On the other hand, when Marx again became the most frequently discussed and quoted author in world philosophical literature because of his newly published pages on alienation, the silence from the Soviet Union on this whole topic, and on the controversies associated with it, provided a striking example of the instrumental use made of his writings in that country. For the existence of alienation in the Soviet Union and its satellites was dismissed out of hand, and any texts relating to the question were treated with suspicion. As Henri Lefebvre (1901–1991) put it, ‘in Soviet society, alienation could and must no longer be an issue. By order from above, for reasons of State, the concept had to disappear.’ Therefore, until the 1970s, very few authors in the ‘socialist camp’ paid any attention to the works in question.

A number of well-known Western authors also played down the complexity of the phenomenon. Lucien Goldmann (1913–1970), for instance, thought it possible to overcome alienation in the social-economic conditions of the time, and in his Dialectical Research (1959) argued that it would disappear, or recede, under the mere impact of planning. ‘Reification,’ he wrote, ‘is in fact a phenomenon closely bound up with the absence of planning and with production for the market’; Soviet socialism in the East and Keynesian policies in the West were resulting ‘in the first case in the elimination of reification, and in the second case in its progressive weakening’. History has demonstrated the faultiness of his predictions.

Whatever their academic discipline or political affiliation, interpreters of the Economic and Philosophic Manuscripts of 1844 may be divided into three groups. The first consists of all those who, in counterposing the Paris manuscripts to Capital, stress the theoretical pre-eminence of the former work. A second group attaches little significance in general to the manuscripts, while a third tends toward the thesis that there is a theoretical continuum between them and Capital.

Those who assumed a split between the ‘young’ and the ‘mature’ Marx, argued for the greater theoretical richness of the former, presented the Economic and Philosophic Manuscripts of 1844 as his most valuable text and sharply differentiated it from his later works. In particular, they tended to marginalize Capital often without studying it in any depth – a book altogether more demanding than the twenty odd pages on alienated labour in the Economic and Philosophic Manuscripts of 1844, about which almost all advanced various philosophical cogitations. In casting Marx’s thought as an ethical-humanist doctrine, these authors pursued the political objective of opposing the rigid orthodoxy of 1930s Soviet Marxism and contesting its hegemony within the workers’ movement. This theoretical offensive resulted in something very different, tending to enlarge the potential field of Marxist theory. Though the formulations were often hazy and generic, Marxism was no longer considered merely as an economic determinist theory and began to exert a greater attraction for large numbers of intellectuals and young people.

This approach began to make headway soon after the publication in 1932 of the Economic and Philosophic Manuscripts of 1844 and continued to win converts until the late 1950s, partly thanks to the explosive effect of a new text so unlike the dominant canon of Marxism. Its main sponsors were a motley group of heterodox Marxists, progressive Christians and existentialist philosophers, who interpreted Marx’s economic writings as a step back from what they saw as the centrality of the human person in his early theories.

The second group of interpreters, who regarded the Economic and Philosophic Manuscripts of 1844 as a transitional text of no special significance in the development of Marx’s thought. This was the most widely read account in the Soviet Union and its later satellite countries. The failure of the manuscripts to mention the ‘dictatorship of the proletariat’, together with the presence of themes such as human alienation and the exploitation of labour that highlighted some of the most glaring contradictions of ‘actually existing socialism’, led to their ostracization at the top of the ruling Communist parties. Not by chance were they excluded from editions of the works of Marx and Engels in various countries of the ‘socialist bloc’. Moreover, many of the authors in question wholly endorsed Vladimir Lenin’s (1870–1924) definition of the stages in the development of Marx’s thought – an approach later canonized by Marxism-Leninism, which, apart from being in many respects theoretically and politically questionable, made it impossible to account for Marx’s important work newly published for the first time eight years after the death of the Bolshevik leader.

As the influence of the Althusserian school grew in the 1960s, this reading also became popular in France and elsewhere in Western Europe. But, although its basic tenets are generally attributed to Althusser alone, the seeds were already there in Pierre Naville (1903–1993). He believed that Marxism was a science and that Marx’s early works, still imbued with the language and preoccupations of Left Hegelianism, marked a stage prior to the birth of a ‘new science’ in Capital. For Althusser, as we have seen, the Economic and Philosophic Manuscripts of 1844 represented the Marx most distant from Marxism.

A philologically unfounded contraposition of Marx’s early writings to the critique of political economy is shared by dissident or ‘revisionist’ Marxists eager to prioritize the former and by orthodox Communists focused on the ‘mature Marx’. Between them, they contributed to one of the principal misunderstandings in the history of Marxism: the myth of the ‘Young Marx’. This antagonism also gave rise to conflicts about the terminology and fundamental concepts of Marxian theory – for example, historical materialism versus historicism, or exploitation versus alienation.

The third and last group of interpreters of the Economic and Philosophic Manuscripts of 1844 consists of those who, from different political and theoretical standpoints, identified a substantive continuity in Marx’s work. The idea of an essential Marxian continuum, as opposed to a sharp theoretical break that completely discarded all that came before, was the inspiration for some of the best interpretations of the concept of alienation in the Economic and Philosophic Manuscripts of 1844. Even then, however, there were a number of errors of interpretation – most notably, in certain authors, an underestimation of Marx’s huge advances of the 1850s and 1860s in the field of political economy. This went together with a diffuse tendency to reconstruct Marx’s thought through collections of quotations, without taking any account of the different periods in which the source texts had been written. All too often, the result was an author assembled out of pieces corresponding to the interpreter’s particular vision, passing backwards and forwards from Economic and Philosophic Manuscripts of 1844 to Capital, as if Marx’s work were a single timeless and undifferentiated text.

To underline the importance of the concept of alienation in the Economic and Philosophic Manuscripts of 1844 for a better understanding of Marx’s development cannot involve drawing a veil of silence over the huge limits of this youthful text. Its author had scarcely begun to assimilate the basic concepts of political economy, and his conception of communism was no more than a confused synthesis of the philosophical studies he had undertaken until then. Captivating as they are, especially in the way they combine philosophical ideas of Hegel and Feuerbach with a critique of classical economic theory and a denunciation of working-class alienation, the Economic and Philosophic Manuscripts of 1844 are only a very first approximation, as is evident from their vagueness and eclecticism. They shed major light on the course Marx took, but an enormous distance still separates them from the themes and argument not only of the finished 1867 edition of Capital, Volume I, but also of the preparatory manuscripts for Capital, one of them published, that he drafted from the late 1850s on.

In contrast to analyses that either play up a distinctive ‘Young Marx’ or try to force a theoretical break in his work, the most incisive readings of the concept of alienation in the Economic and Philosophic Manuscripts of 1844 have known how to treat them as an interesting, but only initial, stage in Marx’s critical trajectory. Had he not continued his research but remained with the concepts of the Paris manuscripts, he would probably have been demoted to a place alongside Bruno Bauer (1809–1882) and Feuerbach in the sections of philosophy manuals devoted to the Hegelian Left.

V. The irresistible fascination of the theory of alienation
In the 1960s a real vogue began for theories of alienation, and hundreds of books and articles were published on it around the world. It was the age of alienation tout court. Authors from various political backgrounds and academic disciplines identified its causes as commodification, overspecialization, anomie, bureaucratization, conformism, consumerism, loss of a sense of self amid new technologies, even personal isolation, apathy, social or ethnic marginalization, and environmental pollution.

The concept of alienation seemed to express the spirit of the age to perfection, and indeed, in its critique of capitalist society, it became a meeting ground for anti-Soviet philosophical Marxism and the most democratic and progressive currents in the Catholic world. However, the popularity of the concept, and its indiscriminate application, created a profound terminological ambiguity. Within the space of a few years, alienation thus became an empty formula ranging right across the spectrum of human unhappiness – so all-encompassing that it generated the belief that it could never be modified.

With Guy Debord’s (1931–1994) book The Society of the Spectacle (1967), which became soon after its publication a veritable manifesto for the generation of students in revolt against the system, alienation theory linked up with the critique of immaterial production. Building on the theses of Horkheimer and Adorno, according to which the manufacturing of consent to the social order had spread to the leisure industry, Debord argued that the sphere of non-labour could no longer be considered separate from productive activity:

Whereas during the primitive stage of capitalist accumulation ‘political economy considers the proletarian only as a worker’, who only needs to be allotted the indispensable minimum for maintaining his labour power, and never considers him ‘in his leisure and humanity’, this ruling-class perspective is revised as soon as commodity abundance reaches a level that requires an additional collaboration from him. Once his workday is over, the worker is suddenly redeemed from the total contempt toward him that is so clearly implied by every aspect of the organization and surveillance of production, and finds himself seemingly treated like a grownup, with a great show of politeness, in his new role as a consumer. At this point the humanism of the commodity takes charge of the worker’s ‘leisure and humanity’ simply because political economy now can and must dominate those spheres.

For Debord, then, whereas the domination of the economy over social life initially took the form of a ‘degradation of being into having’, in the ‘present stage’ there had been a ‘general shift from having to appearing’. This idea led him to place the world of spectacle at the centre of his analysis: ‘The spectacle’s social function is the concrete manufacture of alienation’, the phenomenon through which ‘the fetishism of the commodity […] attains its ultimate fulfilment’. In these circumstances, alienation asserted itself to such a degree that it actually became an exciting experience for individuals, a new opium of the people that led them to consume and ‘identify with the dominant images’, taking them ever further from their own desires and real existence:

the spectacle is the stage at which the commodity has succeeded in totally colonizing social life. […] Modern economic production extends its dictatorship both extensively and intensively. […] With the ‘second industrial revolution’, alienated consumption has become just as much a duty for the masses as alienated production.

In the wake of Debord, Jean Baudrillard (1929–2007) has also used the concept of alienation to interpret critically the social changes that have appeared with mature capitalism. In The Consumer Society (1970), distancing himself from the Marxist focus on the centrality of production, he identified consumption as the primary factor in modern society. The ‘age of consumption’, in which advertising and opinion polls create spurious needs and mass consensus, was also ‘the age of radical alienation’.

Commodity logic has become generalized and today governs not only labour processes and material products, but the whole of culture, sexuality, and human relations, including even fantasies and individual drives. […] Everything is spectacularized or, in other words, evoked, provoked and orchestrated into images, signs, consumable models.

Baudrillard’s political conclusions, however, were rather confused and pessimistic. Faced with social ferment on a mass scale, he thought ‘the rebels of May 1968’ had fallen into the trap of ‘reifying objects and consumption excessively by according them diabolic value’; and he criticized ‘all the disquisitions on ‘alienation’, and all the derisive force of pop and anti-art’ as a mere ‘indictment [that] is part of the game: it is the critical mirage, the anti-fable which rounds off the fable’. Now a long way from Marxism, for which the working class is the social reference point for changing the world, he ended his book with a messianic appeal, as generic as it was ephemeral: ‘We shall await the violent irruptions and sudden disintegrations which will come, just as unforeseeably and as certainly as May 1968, to wreck this white Mass.’

VI. Alienation theory in North American sociology
In the 1950s, the concept of alienation also entered the vocabulary of North American sociology, but the approach to the subject there was quite different from the one prevailing in Europe at the time. Mainstream sociology treated alienation as a problem of the individual human being, not of social relations, and the search for solutions centred on the capacity of individuals to adjust to the existing order, not on collective practices to change society.

Here, too, there was a long period of uncertainty before a clear and shared definition took shape. Some authors considered alienation to be a positive phenomenon, a means of expressing creativity, which was inherent in the human condition in general. Another common view was that it sprang from the fissure between individual and society; Seymour Melman (1917–2004), for instance, traced alienation to the split between the formulation and execution of decisions, and considered that it affected workers and managers alike. In ‘A Measure of Alienation’ (1957), which inaugurated a debate on the concept in the American Sociological Review, Gwynn Nettler (1913–2007) used an opinion survey as a way of trying to establish a definition. But, in sharp contrast to the rigorous labour-movement tradition of investigations into working conditions, his questionnaire seemed to draw its inspiration more from the McCarthyite canons of the time than from those of scientific research. For in effect he identified alienation with a rejection of the conservative principles of American society: ‘consistent maintenance of unpopular and averse attitudes toward familism, the mass media and mass taste, current events, popular education, conventional religion and the telic view of life, nationalism, and the voting process’.

The conceptual narrowness of the American sociological panorama changed after the publication of Melvin Seeman’s (1918–2020) short article ‘On the Meaning of Alienation’ (1959), which soon became an obligatory reference for all scholars in the field. His list of the five main types of alienation – powerlessness, meaninglessness (that is, the inability to understand the events in which one is inserted), normlessness, isolation and self-estrangement – showed that he too approached the phenomenon in a primarily subjective perspective. Robert Blauner (1929–2016), in his book Alienation and Freedom (1964), similarly defined alienation as ‘a quality of personal experience which results from specific kinds of social arrangements’, even if his copious research led him to trace its causes to ‘employment in the large-scale organizations and impersonal bureaucracies that pervade all industrial societies’.

American sociology, then, generally saw alienation as a problem linked to the system of industrial production, whether capitalist or socialist, and mainly affecting human consciousness. This major shift of approach ultimately downgraded, or even excluded, analysis of the historical-social factors that determine alienation, producing a kind of hyper-psychologization that treated it not as a social problem but as a pathological symptom of individuals, curable at the individual level. Whereas in the Marxist tradition the concept of alienation had contributed to some of the sharpest criticisms of the capitalist mode of production, its institutionalization in the realm of sociology reduced it to a phenomenon of individual maladjustment to social norms. In the same way, the critical dimension that the concept had had in philosophy (even for authors who thought it a horizon that could never be transcended) now gave way to an illusory neutrality.

Another effect of this metamorphosis was the theoretical impoverishment of the concept. From a complex phenomenon related to man’s work activity and social and intellectual existence, alienation became a partial category divided up in accordance with academic research specializations. American sociologists argued that this methodological choice enabled them to free the study of alienation from any political connotations and to confer on it scientific objectivity. But, in reality, this a-political ‘turn’ had evident ideological implications, since support for the dominant values and social order lay hidden behind the banner of de-ideologization and value-neutrality.

So, the difference between Marxist and American sociological conceptions of alienation was not that the former were political and the latter scientific. Rather, Marxist theorists were bearers of values opposed to the hegemonic ones in American society, whereas the US sociologists upheld the values of the existing social order, skillfully dressed up as eternal values of the human species. In the American academic context, the concept of alienation underwent a veritable distortion and ended up being used by defenders of the very social classes against which it had for so long been directed.

VII. The concept of alienation in Capital and its preparatory manuscripts
Marx’s own writings played an important role for those seeking to counter this situation. The initial focus on the Economic and Philosophic Manuscripts of 1844 tended to shift after the publication of new texts and with them it was possible to reconstruct the path of his elaboration from the early writings to Capital.

In the second half of the 1840s, Marx no longer made frequent use of the term ‘alienation’. The main exceptions were The Holy Family (1845), The German Ideology (1845-46) and the Manifesto of the Communist Party (1848) all jointly authored with Engels.

In Wage-Labour and Capital (1849), a collection of articles based on lectures he gave to the German Workers’ League in Brussels in 1847, Marx returned to the theory of alienation. But the term itself did not appear in these texts, because it would have had too abstract a ring for his intended audience. He wrote that wage labour does not enter into the worker’s ‘own life activity’ but represents a ‘sacrifice of his life’. Labour-power is a commodity that the worker is forced to sell ‘in order to live’, and ‘the product of his activity, therefore, is not the aim of his activity’:

And the labourer who for twelve hours long, weaves, spins, bores, turns, builds, shovels, breaks stone, carries hods, and so on-is this twelve hours’ weaving, spinning, boring, turning, building, shovelling, stone-breaking, regarded by him as a manifestation of life, as life? Quite the contrary. Life for him begins where this activity ceases, at the table, at the tavern seat, in bed. The twelve hours’ work, on the other hand, has no meaning for him as weaving, spinning, boring, and so on, but only as earnings, which enable him to sit down at a table, to take his seat in the tavern, and to lie down in a bed. If the silk-warm’s object in spinning were to prolong its existence as caterpillar, it would be a perfect example of a wage-worker.

Until the late 1850s there were no more references to the theory of alienation in Marx’s work. Following the defeat of the 1848 revolutions, he was forced to go into exile in London; once there, he concentrated all his energies on the study of political economy and, apart from a few short works with a historical theme, did not publish another book. When he began to write about economics again, however, in the Foundations of the Critique of Political Economy (1857–58), better known as the Grundrisse, he more than once used the term ‘alienation’. This text recalled in many respects the analyses of the Economic and Philosophic Manuscripts of 1844, although nearly a decade of studies in the British Library had allowed him to make them considerably more profound:

The social character of activity, as well as the social form of the product, and the share of individuals in production here appear as something alien and objective, confronting the individuals, not as their relation to one another, but as their subordination to relations which subsist independently of them and which arise out of collisions between mutually indifferent individuals. The general exchange of activities and products, which has become a vital condition for each individual – their mutual interconnection – here appears as something alien to them, autonomous, as a thing. In exchange value, the social connection between persons is transformed into a social relation between things; personal capacity into objective wealth.

The account of alienation in the Grundrisse, then, is enriched by a greater understanding of economic categories and by more rigorous social analysis. The link it establishes between alienation and exchange-value is an important aspect of this. And, in one of the most dazzling passages on this phenomenon of modern society, Marx links alienation to the opposition between capital and ‘living labour-power’:

The objective conditions of living labour appear as separated, independent values opposite living labour capacity as subjective being. […] The objective conditions of living labour capacity are presupposed as having an existence independent of it, as the objectivity of a subject distinct from living labour capacity and standing independently over against it; the reproduction and realization, i.e. the expansion of these objective conditions, is therefore at the same time their own reproduction and new production as the wealth of an alien subject indifferently and independently standing over against labour capacity. What is reproduced and produced anew is not only the presence of these objective conditions of living labour, but also their presence as independent values, i.e. values belonging to an alien subject, confronting this living labour capacity. The objective conditions of labour attain a subjective existence vis-à-vis living labour capacity – capital turns into capitalist.

The Grundrisse was not the only text of Marx’s maturity to feature an account of alienation. Five years after it was composed, the ‘Results of the Immediate Process of Production’ – also known as ‘Capital, Volume I: Book 1, Chapter VI, unpublished’ (1863–64) – brought the economic and political analyses of alienation more closely together. ‘The rule of the capitalist over the worker,’ Marx wrote, ‘is the rule of things over man, of dead labour over the living, of the product over the producer.’ In capitalist society, by virtue of ‘the transposition of the social productivity of labour into the material attributes of capital’, there is a veritable ‘personification of things and reification of persons’, creating the appearance that ‘the material conditions of labour are not subject to the worker, but he to them’. In reality, he argued:

Capital is not a thing, any more than money is a thing. In capital, as in money, certain specific social relations of production between people appear as relations of things to people, or else certain social relations appear as the natural properties of things in society. Without a class dependent on wages, the moment individuals confront each other as free persons, there can be no production of surplus-value; without the production of surplus-value there can be no capitalist production, and hence no capital and no capitalist! Capital and wage-labour (it is thus we designate the labour of the worker who sells his own labour-power) only express two aspects of the self-same relationship. Money cannot become capital unless it is exchanged for labour-power, a commodity sold by the worker himself. Conversely, work can only be wage-labour when its own material conditions confront it as autonomous powers, alien property, value existing for itself and maintaining itself, in short as capital. If capital in its material aspects, i.e. in the use-values in which it has its being, must depend for its existence on the material conditions of labour, these material conditions must equally, on the formal side, confront labour as alien, autonomous powers, as value – objectified labour – which treats living labour as a mere means whereby to maintain and increase itself.

In the capitalist mode of production, human labour becomes an instrument of the valorization process of capital, which, ‘by incorporating living labour-power into the material constituents of capital, […] becomes an animated monster and […] starts to act as if consumed by love.’ This mechanism keeps expanding in scale, until co-operation in the production process, scientific discoveries and the deployment of machinery – all of them social processes belonging to the collective – become forces of capital that appear as its natural properties, confronting the workers in the shape of the capitalist order:

The productive forces […] developed [by] social labour […] appear as the productive forces of capitalism. […] Collective unity in co-operation, combination in the division of labour, the use of the forces of nature and the sciences, of the products of labour, as machinery – all these confront the individual workers as something alien, objective, ready-made, existing without their intervention, and frequently even hostile to them. They all appear quite simply as the prevailing forms of the instruments of labour. As objects they are independent of the workers whom they dominate. Though the workshop is to a degree the product of the workers’ combination, its entire intelligence and will seem to be incorporated in the capitalist or his understrappers, and the workers find themselves confronted by the functions of the capital that lives in the capitalist.

Through this process capital becomes something ‘highly mysterious’. ‘The conditions of labour pile up in front of the worker as social forces, and they assume a capitalized form.’

Beginning in the 1960s, the diffusion of ‘Capital, Volume I: Book 1, Chapter VI, unpublished’ and, above all, of the Grundrisse paved the way for a conception of alienation different from the one then hegemonic in sociology and psychology. It was a conception geared to the overcoming of alienation in practice – to the political action of social movements, parties and trade unions to change the working and living conditions of the working class. The publication of what, after the Economic and Philosophic Manuscripts of 1844 in the 1930s, may be thought of as the ‘second generation’ of Marx’s writings on alienation therefore provided not only a coherent theoretical basis for new studies of alienation, but above all an anti-capitalist ideological platform for the extraordinary political and social movement that exploded in the world during those years. Alienation left the books of philosophers and the lecture halls of universities, took to the streets and the space of workers’ struggles, and became a critique of bourgeois society in general.

VIII. Commodity fetishism
One of Marx’s best accounts of alienation is contained in the famous section of Capital on ‘The Fetishism of the Commodity and Its Secret’, where he shows that, in capitalist society, people are dominated by the products they have created . Here, the relations among them appear not ‘as direct social relations between persons […], but rather as material relations between persons and social relations between things’. As he famously wrote:

The mysterious character of the commodity-form consists […] in the fact that the commodity reflects the social characteristics of men’s own labour as objective characteristics of the products of labour themselves, as the socio-natural properties of these things. Hence it also reflects the social relation of the producers to the sum total of labour as a social relation between objects, a relation which exists apart from and outside the producers. Through this substitution, the products of labour become commodities, sensuous things which are at the same time supra-sensible or social. […] It is nothing but the definite social relation between men themselves which assumes here, for them, the fantastic form of a relation between things. In order, therefore, to find an analogy we must take flight into the misty realm of religion. There the products of the human brain appear as autonomous figures endowed with a life of their own, which enter into relations both with each other and with the human race. So, it is in the world of commodities with the products of men’s hands. I call this the fetishism which attaches itself to the products of labour as soon as they are produced as commodities, and is therefore inseparable from the production of commodities.

Two elements in this definition mark a clear dividing line between Marx’s conception of alienation and the one held by most of the other authors we have been discussing. First, Marx conceives of fetishism not as an individual problem but as a social phenomenon, not as an affair of the mind but as a real power, a particular form of domination, which establishes itself in market economy as a result of the transformation of objects into subjects. For this reason, his analysis of alienation does not confine itself to the disquiet of individual women and men, but extends to the social processes and productive activities underlying it. Second, for Marx fetishism manifests itself in a precise historical reality of production, the reality of wage labour; it is not part of the relation between people and things as such, but rather of the relation between man and a particular kind of objectivity: the commodity form.

As a consequence of this peculiarity of capitalism, individuals had value only as producers, and ‘human existence’ was subjugated to the act of the ‘production of commodities’. Hence ‘the process of production’ had ‘mastery over man, instead of being controlled by him’. Capital ‘care[d] nothing for the length of life of labour power’ and attached no importance to improvements in the living conditions of the proletariat. Capital ‘attains this objective by shortening the life of labour-power.’

In bourgeois society, human qualities and relations turn into qualities and relations among things. This theory of what Lukács would call reification illustrated alienation from the point of view of human relations, while the concept of fetishism treated it in relation to commodities. Pace those who deny that a theory of alienation is present in Marx’s mature work, we should stress that commodity fetishism did not replace alienation but was only one aspect of it.

The theoretical advance from the Economic and Philosophic Manuscripts of 1844 to Capital and its related materials does not, however, consist only in the greater precision of his account of alienation. There is also a reformulation of the measures that Marx considers necessary for it to be overcome. Whereas in 1844 he had argued that human beings would eliminate alienation by abolishing private production and the division of labour, the path to a society free of alienation was much more complicated in Capital and its preparatory manuscripts.

Marx held that capitalism was a system in which the workers were subject to capital and the conditions it imposed. Nevertheless, it had created the foundations for a more advanced society, and by generalizing its benefits humanity would be able to progress along the faster road of social development that it had opened up. One of Marx’s most analytic accounts of the positive effects of capitalist production is to be found towards the end of Capital, Volume I, in the section entitled ‘Historical Tendency of Capitalist Accumulation’. In the passage in question, he summarizes the six conditions generated by capitalism – particularly by its centralization – that constitute the basic prerequisites for the birth of communist society. These are: 1) the cooperative labour process; 2) the scientific-technological contribution to production; 3) appropriation of the forces of nature by production; 4) creation of machinery that workers can only operate in common; 5) the economizing of all means of production; and 6) the tendency to the creation of the world market. For Marx:

Hand in hand with this centralization, or this expropriation of many capitalists by a few, other developments take place on an ever-increasing scale, such as the growth of the co-operative form of the labour process, the conscious technical application of science, the planned exploitation of the soil, the transformation of the means of labour into forms in which they can only be used in common, the economizing of all means of production by their use as the means of production of combined, socialized labour, the entanglement of all peoples in the net of the world market, and, with this, the growth of the international character of the capitalist regime.

Marx well knew that the concentration of production in the hands of a small number of bosses increased ‘the mass of misery, oppression, slavery, degradation and exploitation’ for the working class, but he was also aware that ‘the co-operation of wage-labourers is entirely brought about by the capital that employs them.’ He was convinced that the extraordinary growth of the productive forces under capitalism, greater and faster than in all previously existing modes of production, had created the conditions to overcome the social-economic relations that capitalism had itself brought about – and therefore to achieve the transition to socialist society.

9. Communism, emancipation and freedom
According to Marx, a system that produced an enormous accumulation of wealth for the few and deprivation and exploitation for the general mass of workers must be replaced with an ‘association of free men, working with the means of production held in common, and expending their many different forms of labour-power in full self-awareness as one single social labour force.’ In Capital, Volume I, Marx explained that the ‘ruling principle’ of this ‘higher form of society’ would be ‘the full and free development of every individual’. In the Grundrisse he wrote that in communist society production would be ‘directly social’, ‘the offspring of association, which distributes labour internally’. It would be managed by individuals as their ‘common wealth’. The ‘social character of production’ [gesellschaftliche Charakter der Produktion] would ‘make the product into a communal, general product from the outset’; its associative character would be ‘presupposed’ and ‘the labour of the individual […] from the outset taken as social labour’. As Marx stressed in the Critique of the Gotha Programme (1875), in postcapitalist society ‘individual labour no longer exists in an indirect fashion but directly as a component part of the total labour.’ In addition, the workers would be able to create the conditions for the eventual disappearance of ‘the enslaving subordination of the individual to the division of labour’.

In Capital, Volume I, Marx highlighted that in communism, the conditions would be created for a form of ‘planned cooperation’ through which the worker ‘strips off the fetters of his individuality and develops the capabilities of his species’. In Capital, Volume II (1885), Marx pointed out that society would then be in a position to ‘reckon in advance how much labour, means of production and means of subsistence it can spend, without dislocation’, unlike in capitalism ‘where any kind of social rationality asserts itself only post festum’ and ‘major disturbances can and must occur constantly’.

This type of production would differ from wage labour because it would place its determining factors under collective governance, take on an immediately general character and convert labour into a truly social activity. This was a conception of society at the opposite pole from Thomas Hobbes’s (1588–1679) ‘war of all against all’. In referring to so-called free competition, or the seemingly equal positions of workers and capitalists on the market in bourgeois society, Marx stated that the reality was totally different from the human freedom exalted by apologists of capitalism. The system posed a huge obstacle to democracy, and he showed better than anyone else that the workers did not receive an equivalent for what they produced. In the Grundrisse, he explained that what was presented as an ‘exchange of equivalents’ was, in fact, appropriation of the workers’ ‘labour time without exchange’; the relationship of exchange ‘dropped away entirely, or it became a ‘mere semblance’. Relations between persons were ‘actuated only by self-interest’.

This ‘clash of individuals’ had been passed off as the ‘the absolute form of existence of free individuality in the sphere of production and exchange’. But for Marx ‘nothing could be further from the truth’, since ‘it is not individuals who are set free by free competition; it is, rather, capital which is set free’. In the Economic Manuscripts of 1863-67, he denounced the fact that ‘surplus labour is initially pocketed, in the name of society, by the capitalist’ – the surplus labour that is ‘the basis of society’s free time’ and, by virtue of this, the ‘material basis of its whole development and of civilization in general’. And in Capital, Volume I, he showed that the wealth of the bourgeoisie was possible only by ‘turning the whole lifetime of the worker and his family into labour-time’.

In the Grundrisse, Marx observed that in capitalism ‘individuals are subsumed under social production’, which ‘exists outside them as their fate’. This happens only through the attribution of exchange-value conferred on the products, whose buying and selling takes place post festum. Furthermore, ‘all social powers of production’ – including scientific discoveries, which appear as alien and external to the worker, are posited by capital. The very association of the workers, at the places and in the act of production, is ‘operated by capital’ and is therefore ‘only formal’. Use of the goods created by the workers ‘is not mediated by exchange between mutually independent labours or products of labour’, but rather ‘the social conditions of production within which the individual is active.’ Marx explained how productive activity in the factory ‘concerns only the product of labour, not labour itself’, since it ‘will occur initially only in a common location, under overseers, regimentation, greater discipline, regularity and the posited dependence in production itself on capital’.

In order to change these conditions, contrary to the view of many of Marx’s socialist contemporaries, a redistribution of consumption goods was not sufficient to reverse this state of affairs. A root-and-branch change in the productive assets of society was necessary. Thus, in the Grundrisse Marx noted that ‘the demand that wage labour be continued but capital suspended is self-contradictory, self-dissolving’. What was required was ‘dissolution of the mode of production and form of society based upon exchange value’. In the address published under the title Value, Price and Profit (1865), he called on workers to ‘inscribe on their banner’ not ‘the conservative motto: ‘A fair day’s wage for a fair day’s work!’ [but] the revolutionary watchword: ‘Abolition of the wages system!’’

Furthermore, the Critique of the Gotha Programme made the point that in the capitalist mode of production ‘the material conditions of production are in the hands of non-workers in the form of capital and land ownership, while the masses are only owners of the personal condition of production, of labour power’. Therefore, it was essential to overturn the property relations at the base of the bourgeois mode of production. In the Grundrisse, Marx recalled that ‘the laws of private property – liberty, equality, property – property in one’s own labour, and free disposition over it – tum into the worker’s propertylessness, and the dispossession of his labour, i.e. the fact that he relates to it as alien property and vice versa.’ And in 1869, in a report of the General Council of the International Working Men’s Association, he asserted that ‘private property in the means of production’ served to give the bourgeois class ‘the power to live without labour upon other people’s labour’. He repeated this point in another short political text, the Preamble to the Programme of the French Workers’ Party (1880), adding that ‘the producers cannot be free unless they are in possession of the means of production’ and that the goal of the proletarian struggle must be ‘the return of all the means of production to collective ownership’.

In Capital, Volume III (1894), Marx observed that when the workers had established a communist mode of production ‘private property of the earth by single individuals [would] appear just as absurd as private property of one human being by another’. He directed his most radical critique against the destructive possession inherent in capitalism, insisting that ‘even an entire society, a nation, or even all simultaneously existing societies taken together, are not the owners of the earth’. For Marx, human beings were ‘simply its possessors, its beneficiaries, and have to bequeath it in an improved state to succeeding generations, as good heads of the household [boni patres familias]’.

A different kind of ownership of the means of production would also radically change the life-time of society. In Capital, Volume I, Marx unfolded with complete clarity the reasons why in capitalism ‘the shortening of the working day is […] by no means what is aimed at in capitalist production, when labour is economized by increasing its productivity’. The time that the progress of science and technology makes available for individuals is in reality immediately converted into surplus value. The only aim of the dominant class is the ‘shortening of the labour-time necessary for the production of a definite quantity of commodities’. Its only purpose in developing the productive forces is the ‘shortening of that part of the working day in which the worker must work for himself, and the lengthening […] the other part […] in which he is free to work for nothing for the capitalist’. This system differs from slavery or the corvées due to the feudal lord, since ‘surplus labour and necessary labour are mingled together’ and make the reality of exploitation harder to perceive.

In the Grundrisse, Marx showed that ‘free time for a few’ is possible only because of this surplus labour time of the many. The bourgeoisie secures growth of its material and cultural capabilities only thanks to the limitation of those of the proletariat. The same happens in the most advanced capitalist countries, to the detriment of those on the periphery of the system. In the Economic Manuscript of 1861-63, Marx emphasized that the ‘free development’ of the dominant class is ‘based on the restriction of development’ among the working class’; ‘the surplus labour of the workers’ is the ‘natural basis of the social development of the other section’. The surplus labour time of the workers is not only the pillar supporting the ‘material conditions of life’ for the bourgeoisie; it also creates the conditions for its ‘free time, the sphere of [its] development’. Marx could not have put it better: ‘the free time of one section corresponds to the time in thrall to labour of the other section.’

For Marx communist society, by contrast, would be characterized by a general reduction in labour time. In the ‘Instructions for the Delegates of the Provisional General Council’, composed in August 1866 for the International Working Men’s Association , Marx wrote in forthright terms: ‘a preliminary condition, without which all further attempts at improvement and emancipation must prove abortive, is the limitation of the working day.’ It was needed not only ‘to restore the health and physical energies of the working class’ but also ‘to secure them the possibility of intellectual development, sociable intercourse, social and political action’.

Similarly, in Capital, Volume I, while noting that workers’ ‘time for education, for intellectual development, for the fulfilling of social functions, for social intercourse, for the free play of the vital forces of his body and his mind’ counted as pure ‘foolishness’ in the eyes of the capitalist class, Marx implied that these would be the basic elements of the new society. As he put it in the Grundrisse, a reduction in the hours devoted to labour – and not only labour to create surplus value for the capitalist class – would favour ‘the artistic, scientific etc. development of the individuals in the time set free, and with the means created, for all of them’.

On the basis of these convictions, Marx identified the ‘economy of time, along with the planned distribution of labour time among the various branches of production’ as ‘first economic law on the basis of communal production’. In Theories of Surplus Value (1862–63) he made it even clearer that ‘real wealth’ was nothing other than ‘disposable time’. In communist society, workers’ self-management would ensure that ‘a greater quantity of time’ was ‘not absorbed in direct productive labour but […] available for enjoyment, for leisure, thus giving scope for free activity and development’. In this text, so too in the Grundrisse, Marx quoted a short anonymous pamphlet entitled The Source and Remedy of the National Difficulties, Deduced from Principles of Political Economy, in a Letter to Lord John Russell (1821), whose definition of well-being he fully shared: that is, ‘truly wealthy a nation, if there is no interest or if the working day is 6 hours rather than 12’.

Wealth is not command over surplus labour time – the real wealth – ‘but disposable time, in addition to that employed in immediate production, for every individual and for the whole society.’ Elsewhere in the Grundrisse he asked rhetorically: ‘what is wealth other than the universality of individual needs, capacities, pleasures, productive forces […] the absolute working out of his creative potentialities?’ It is evident, then, that the socialist model in Marx’s mind did not involve a state of generalized poverty, but rather the attainment of greater collective wealth.

For Marx, living in a non-alienated society meant building a social organization in which a fundamental value was given to individual freedom. He attached a fundamental value to individual freedom, and his communism was radically different from the levelling of classes envisaged by his various predecessors or pursued by many of his epigones. In the Grundrisse however, he pointed to the ‘foolishness of those socialists (namely the French, who want to depict socialism as the realization of the ideals of bourgeois society articulated by the French revolution) who demonstrate that exchange and exchange value etc. are originally […] a system of universal freedom and equality, but that they have been perverted by money, capital’.

He labelled it an ‘absurdity’ to regard ‘free competition is the ultimate development of human freedom’; it was tantamount to a belief that ‘the rule of the bourgeoisie is the terminal point of world history’, which he mockingly described as ‘middle-class rule is the culmination of world history – certainly an agreeable thought for the parvenus of the day before yesterday’. In the same way, Marx contested the liberal ideology according to which ‘the negation of free competition [was] equivalent to the negation of individual freedom and of social production based upon individual freedom’. In bourgeois society, the only possible ‘free development’ was ‘on the limited basis of the domination of capital’. But that ‘type of individual freedom’ was, at the same time, ‘the most sweeping abolition of all individual freedom and the complete subjugation of individuality to social conditions which assume the form of objective powers, indeed of overpowering objects […] independent of the individuals relating to one another.’ As he wrote in Capital, Volume III:

The realm of freedom really begins only where labour determined by necessity and external expediency ends; it lies by its very nature beyond the sphere of material production proper. Just as the savage must wrestle with nature to satisfy his needs, to maintain and reproduce his life, so must civilized man, and he must do so in all forms of society and under all possible modes of production. This realm of natural necessity expands with his development, because his needs do too; but the productive forces to satisfy these expand at the same time.

Freedom, in this sphere, can consist only in this, that socialized man, the associated producers, govern the human metabolism with nature in a rational way, bringing it under their collective control instead of being dominated by it as a blind power; accomplishing it with the least expenditure of energy and in conditions most worthy and appropriate for their human nature. But this always remains a realm of necessity. The true realm of freedom, the development of human powers as an end in itself, begins beyond it, though it can only flourish with this realm of necessity as its basis. The reduction of the working day is the basic prerequisite.

This post-capitalist system of production, together with scientific-technological progress and a consequent reduction of the working day, creates the possibility for a new social formation in which the coercive, alienated labour imposed by capital and subject to its laws is gradually replaced with conscious, creative activity beyond the yoke of necessity, and in which complete social relations take the place of random, undifferentiated exchange dictated by the laws of commodities and money . It is no longer the realm of freedom for capital but the realm of genuine human freedom.

Bibliography
Althusser, Louis (1969) For Marx, Harmondsworth: Penguin.
Althusser, Louis (1971) Essays in Self-Criticism, London: New Books.
Arendt, Hannah (1958) The Human Condition, Chicago: University of Chicago Press.
Aron, Raymond (1969) D’une Sainte Famille à l’autre, Paris: Éditions Gallimard.
Axelos, Kostas (1976) Alienation, Praxis, and Techné in the Thought of Karl Marx, Austin/London: University of Texas Press.
Baudrillard, Jean (1998) The Consumer Society, London: Sage.
Bell, Daniel (1959) ‘The Rediscovery of Alienation: Some notes along the quest for the historical Marx’, Journal of Philosophy 56, no. 24, pp. 933-952.
Blauner, Robert (1964) Alienation and Freedom, Chicago: University of Chicago Press.
Clark, John (1959) ‘Measuring alienation within a social system’, American Sociological Review 24, no. 6, pp. 849-852.
D’Abbiero, Marcella (1970) Alienazione in Hegel. Usi e significati di Entaeusserung, Entfremdung, Veraeusserung, Rome: Edizioni dell’Ateneo.
Debord, Guy (2002) The Society of the Spectacle, Canberra: Hobgoblin.
Fetscher, Iring (1971) Marx and Marxism, New York: Herder and Herder.
Fourier, Charles (1996) The Theory of the Four Movements, Cambridge: Cambridge University Press.
Freud, Sigmund (1962) Civilization and its Discontents, New York: Norton.
Friedmann, Georges (1964) The Anatomy of Work, New York: Glencoe Press.
Fromm, Erich (1961) Marx’s Concept of Man, New York: Frederick Ungar.
Fromm, Erich (1965a) The Same Society, New York: Fawcett.
Fromm, Erich (ed.) (1965b) ‘The Application of Humanist Psychoanalysis to Marx’s Theory’, in Erich Fromm (ed.), Socialist Humanism, New York: Doubleday, pp. 228-245.
Geyer, Felix (1982) ‘A General Systems Approach to Psychiatric and Sociological De-alienation’, in Giora Shoham (ed.), Alienation and Anomie Revisited, Tel Aviv: Ramot, pp. 139-174.
Geyer, Felix and David Schweitzer (eds.) (1976) ‘Introduction’, in Felix Geyer and David Schweitzer, Theories of Alienation, Leiden: Martinus Nijhoff, pp. xiv-xxv.
Goldmann, Lucien (1959) Recherches dialectiques, Paris: Gallimard.
Heidegger, Martin (1962) Being and Time, San Francisco: Harper.
Heidegger, Martin (1993) ‘Letter on Humanism’, in Martin Heidegger, Basic Writings, London: Routledge.
Heinz, Walter R. (1992) ‘Changes in the Methodology of Alienation Research’, in Felix Geyer and Walter R. Heinz (ed.), Alienation, Society, and the Individual, New Brunswick, NJ: Transaction, pp. 213-221.
Hess, Moses (2011) On the Essence of Money, Ann Arbor: Charles River Editors.
Horkheimer, Max and Theodor W. Adorno (1972) Dialectic of Enlightenment, New York: Seabury Press.
Horowitz, Irving Louis (1996) ‘The Strange Career of Alienation: How a Concept is Transformed Without Permission of its Founders’, in Felix Geyer (ed.), Alienation, Ethnicity, and Postmodernism, Westport: Greenwood Press, pp. 17-20.
Horton, John (1964) ‘The Dehumanization of Anomie and Alienation: a problem in the ideology of sociology’, The British Journal of Sociology 15, no. 4, pp. 283-300.
Hyppolite, Jean (1969) Studies on Marx and Hegel, New York: Basic Books.
Kaufmann, Walter (1970) ‘The Inevitability of Alienation’, in Richard Schacht, Alienation, Garden City: Doubleday, pp. xv-lviii.
Kojeve, Alexander (1980) Introduction to the Reading of Hegel: Lectures on the Phenomenology of Spirit, Ithaca: Cornell University Press.
Lefebvre, Henri (1972) Marx, Paris: Presses Universitaires de France.
Lefebvre, Henri (1991) Critique of Everyday Life, London: Verso.
Ludz, Peter C. (1976) ‘Alienation as a Concept in the Social Sciences’, in Felix Geyer and David Schweitzer (eds.), Theories of Alienation, Leiden: Martinus Nijhoff, pp. 3-37.
Lukacs, Gyorgy (1960) Histoire et conscience de classe, Paris: Minuit.
Lukacs, Gyorgy (1971) History and Class Consciousness, Cambridge: MIT Press.
Mattick, Paul (1969) Marx and Keynes, Boston: Extending Horizons Books.
Marcuse, Herbert (1966) Eros and Civilization, Boston: Beacon Press.
Marcuse, Herbert (1972) ‘The Foundation of Historical Materialism’, in Studies in Critical Philosophy, Boston: Beacon Press, pp. 1–49.
Marcuse, Herbert (1973) ‘On the Philosophical Foundation of the Concept of Labor in Economics’, Telos 16, no. 25, pp. 2-37.
Marcuse, Herbert (1931) ‘Zur Kritik der Soziologie’, Die Gesellschaft 8, no. 2, p. 270-280.
Marx, Karl (1942) ‘Comments on James Mill, Éléments d’économie politique’, in Karl Marx, Selected Works, London: Lawrence & Wishart, pp. ??-??.
Marx, Karl (1970) ‘Wage-Labour and Capital’, in Wage-Labour and Capital & Value, Price and Profit, Moscow: Progress Publishers, pp. 15–48.
Marx, Karl (1988a) ‘Economic and Philosophic Manuscripts of 1844’, in Economic and Philosophic Manuscripts of 1844 and the Communist Manifesto, New York: Prometheus Books, pp. 13–168.
Marx, Karl (1988b) ‘Economic Manuscript of 1861-63’, in Marx Engels Collected Works, vol. 30, London: Lawrence & Wishart, 1988, p. 9–451.
Marx, Karl (1990a) ‘Results of the Immediate Process of Production’, in Karl Marx, Marx, Capital: A Critique of Political Economy, Volume One, London: Penguin Books, pp. 943–1084.
Marx, Karl (1990) Capital: A Critique of Political Economy, Volume One, London: Penguin.
Marx, Karl (1991) Capital: A Critique of Political Economy, Volume Three, London: Penguin.
Marx, Karl (1992a) Capital A Critique of Political Economy, Volume Two, London: Penguin.
Marx, Karl (1992b) ‘A Contribution to the Critique of Hegel’s Philosophy of Right. Introduction’, in Karl Marx, Early Writings, London: Penguin, pp. 243-257.
Marx, Karl (1993) Grundrisse: Foundations of the Critique of Political Economy, London: Penguin.
Marx, Karl (2010a) ‘Value, Price and Profit’, in Marx Engels Collected Works, vol. 20, London: Lawrence & Wishart, pp. 101–149.
Marx, Karl (2010b) ‘Instructions for the Delegates of the Provisional General Council. The Different Questions’, in Marx Engels Collected Works, vol. 20, London: Lawrence & Wishart pp. 185–194.
Marx, Karl (2010c) ‘Report of the General Council on the Right of Inheritance’, in Marx Engels Collected Works, vol. 21, London: Lawrence & Wishart, 65–67.
Marx, Karl (2010d) ‘Critique of the Gotha Program’, in Marx Engels Collected Works, vol. 24, London: Lawrence & Wishart, 75–99.
Marx, Karl (2010e) ‘Preamble to the Programme of the French Workers’ Party’, in Marx Engels Collected Works, vol. 24, London: Lawrence & Wishart, 340–342.
McLellan, David (1986) Marx, London: Fontana.
Meiksins Wood, Ellen (1995) Democracy against Capitalism, Cambridge University Press.
Melman, Seymour (1958) Decision-making and Productivity, Oxford: Basil Blackwell.
Mészáros, István (1970) Marx’s Theory of Alienation, London: Merlin Press.
Musto, Marcello (ed.) (2008) Karl Marx’s Grundrisse: Foundations of the Critique of Political Economy 150 years Later, London: Routledge.
Musto, Marcello (2014) ‘Introduction’, in Marcello Musto (ed.), Workers Unite! The International 150 Years Later, London: Bloomsbury, pp. 1-68.
Musto, Marcello (2015) ‘The Myth of the ‘Young Marx’ in the Interpretations of the Economic and Philosophic Manuscripts of 1844’, Critique 43, no. 2, pp. 233-60.
Musto, Marcello (2018) Another Marx: Early Manuscripts to the International, London: Bloomsbury.
Musto, Marcello (2020) ‘Communism’, in Marcello Musto (ed.), The Marx Revival: Key Concepts and New Interpretations, Cambridge University Press, pp. 24-50.
Musto, Marcello (2019) Marx’s Capital after 150 Years: Critique and Alternative to Capitalism, London: Routledge.
Nettler, Gwynn (1957) ‘A Measure of Alienation’, American Sociological Review 22, no. 6, pp. 670-677.
Ollman, Bertell (1971) Alienation, New York: Cambridge University Press.
Prawer, Siebert S. (1978) Karl Marx and World Literature, Oxford: Oxford University Press.
Rubin, Isaak Illich (1972) Essays on Marx’s Theory of Value, Detroit: Black & Red.
Schacht, Richard (1970) Alienation, Garden City: Doubleday.
Schaff, Adam (1970) Marxism and the Human Individual, New York: McGraw-Hill.
Schaff, Adam (1980) Alienation as a Social Phenomenon, Oxford: Pergamon Press.
Schweitzer, David (1982) ‘Alienation, De-alienation, and Change: A critical overview of current perspectives in philosophy and the social sciences’, in Giora Shoham (ed.) Alienation and Anomie Revisited, Tel Aviv: Ramot, pp. 27-70.
Schweitzer, David (1996) ‘Fetishization of Alienation: Unpacking a Problem of Science, Knowledge, and Reified Practices in the Workplace’, in Felix Geyer (ed.) Alienation, Ethnicity, and Postmodernism, Westport: Greenwood Press, pp. 21-36.
Seeman, Melvin (1959) ‘On the Meaning of Alienation’, American Sociological Review 24, no. 6, pp. 783-791.
Seeman, Melvin (1972) ‘Alienation and Engagement’, in Angus Campbell and Philip E. Converse (eds.), The Meaning of Social Change, New York: Russell Sage, pp. 467-527.
Tucker, Robert (1961) Philosophy and Myth, Cambridge: Cambridge University Press.